Hoa Súng Tên tiếng việt: Súng lam, Súng Tên khoa học: Nymphaea nouchali Burm.f. - Nymphaea stellata Willd. Họ: Nymphaeaceae. Công dụng: Lỵ, ỉa chảy, di mộng tinh, bệnh bạch đới, tim đập mạnh, ho, viêm bàng quang, viêm thận, đái són; còn chữa đau lưng mỏi gối (Thân rễ).
Mô tả chi tiết

1. Mô tả

  • Cây thảo, sống ở nước. Thân rễ ngắn mang nhiều củ nhỏ. Lá to, mọc nổi trên mặt nước, hình tim tròn, dài 13 cm, rộng 7 – 10 cm, đầu tù, mép hơi lượn sóng, mặt trên màu lục, mặt dưới tía, cuống lá mảnh rất dài.
  • Hoa to, đường kính 3 – 15 cm, mọc đơn độc, màu xanh lơ nhat, trắng hoặc tím, lá dài gần bằng cánh hoa, cánh hoa 10 – 30 không đéu, nhị 10 - 50, bao phấn có một phần không sinh sản ở đầu.
  • Quả ít gặp.
  • Mùa hoa quả: tháng 5 – 6.
  • Loài súng sen hay súng đỏ có hoa màu đỏ, chưa thấy được dùng làm thuốc.

2. Phân bố, sinh thái

  • Chi Nymphaea L gồm khoảng 10 loài, sống ở nước, phân bố rải rác khắp vùng nhiệt đới và cận nhiết đới. Ở Viêt Nam có 4 loài, 2 loài là cây nhâp trồng làm cảnh.
  • Súng là loại cây nhiết đới cổ, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á, từ Nam Trung Quốc đến Việt Nam, Lào, Campuchia, Ấn Độ và một số nước khác. Ở Việt Nam, súng moc tự nhiên nhiếu ở hầu hêt các ao hồ, đồng chiêm trũng hay kênh rạch, nơi nước lặng và nông. Phần thân ngâm (gốc và các rẻ củ) nằm sâu dưới lớp bùn, lá mọc nổi trên mặt nước để hô hấp và quang hợp, độ dài của cuống lá phụ thuộc vào độ sâu của nước. Tuy nhiên, sự phát triển của cuống lá cũng chỉ có giới han, ở những nơi nước sâu trên 1,5 m ít khi thấy có cây moc. Súng ra hoa nhiều hàng năm nhưng ít khi đậu quả. Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe từ gốc. Phần cuống non của hoa và rễ củ (tròn) ăn được.

 3. Bộ phận dùng

  • Thân rễ, thu hái quanh năm, phơi khô. Hoa hái khi mới nở, dùng tươi.

4. Thành phần hóa học

  • Hoa súng chứa polvsacchacid gồm D-xylose. 64,5%: và L-arabinose 35,5% (CA. 118 :19 199 y)
  • Thân rễ khô chứa nước 4,2%, chất béo 0,45%, protein 14.56%, carbohydrat 67.49%, chất xơ 5,45%, tro 7,85%.
  • Hạt chứa nước 5,4%, chất béo 1,30%, protein 11,31%, carbohydrat 70,59%, chất xơ 7,45%, tro 3.95%.
  • (The Wealth of India VII, 1996)
  • Ngoài ra, cây súng còn có nupharin, môt hợp chất oestrogen (Võ Văn Chi, 1997).

5. Tác dụng dược lý

  • Theo tài liệu nước ngoài, cao chiết cồn từ quả súng được thử thấy có tác dụng giảm đau, chống viêm, hạ sốt và ức chế hệ thần kinh trung ương.

6. Tính vị, công năng

  • Thân rễ súng có vi nhạt, hơi ngọt, bùi, hơi béo, chát, tính bình, vào 2 kinh tỳ và thân, có tác dụng sáp tinh làm dịu dục tình, cường tráng thu liễm, gây ngủ.

7. Công dụng

  • Thân rẽ súng đươc dùng chữa các trạng thái kích thích tình dục như cương đau dương vật, mộng tinh, hoạt tinh hoặc bach đới, bạch troc, chứng mất ngủ, hội chứng bồn chồn, tim đập mạnh, viêm bàng quang, viên thận đau lưng, mỏi gối, lỵ. Ngày dùng 30g sắc uống.
  • Hoa súng (1 - 2g) sắc uống để gây ngủ và chữa tim hồi hộp. Lá súng phối hợp với các vị thuốc khác chữa sốt rét, sốt phát ban.
  • Ở Ấn Đô, thân rễ súng, tán bột, uống chữa đầy hơi. tiêu chảy và trĩ.
  • Kiêng& ky:

Người đai tiện táo bón, tiểu tiện bí, không dùng củ súng.

8. Bài thuốc có súng

  • Chữa thần kinh suy nhược. di mông hoạt tinh, lỵ mãn tính, viêm ruột mãn tính

Củ súng cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sach, thái mỏng, phơi khô, sao vàng, tán bột; quả kim anh, cạo hết gai, bổ đôi, nạo sạch hạt và lông, sao vàng, tán bột. Trôn hai bột với lượng bằng nhau, thêm mật làm viên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 - 5g với nước nóng (Thủy luc nhị tiên đơn).

  • Thuốc bổ thận

Củ súng 40g, thục địa 50g, thạch hộc 30g, hoàn sơn 30g, táo nhân 20g, tỳ giải hoặc thổ phục linh 20g. Thục địa thái mỏng, chưng cách thủy cho mềm, tán nhuyễn. Các dược liệu khác phơi khô sao vàng, tán bột mịn, rồi trộn với thục địa và mật ong làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g.

  • Chữa cảm nhất là cảm nắng:

Củ súng phơi khô, nấu với nước 2 lần rồi cô thành cao uống.

TRA CỨU DƯỢC LIỆU

  • {{ content.fields.name }}
Các thông tin trên Website được dựa trên Cuốn Danh lục cây thuốc Việt Nam, cây thuốc và động vật làm thuốc