Một số hợp chất phân lập từ phân đoạn dịch chiết ethylacetat của lá cây dâu tằm (Morus alba L)


Cây dâu tằm (Morus alba L.) trong sách cổ của Trung Quốc được coi là loài cây quý, có rất nhiều công dụng đối với con người, vừa có thể làm thuốc trị bệnh, vừa có thể làm thực phẩm bồi bổ cơ thể. Trong đó, lá dâu tằm không chỉ được dùng để chữa các bệnh như tiểu đường, huyết áp cao, rối loạn lipid máu, viêm đường hô hấp, nhức đầu, mờ mắt ... mà còn được dùng với công dụng làm đẹp da, trắng da [1, 2. Lá dâu được coi là một trong những nguồn nguyên liệu tự nhiên trong việc làm đẹp da, loại bỏ vết thâm nám, tàn nhang trên da.

Trên thế giới, một số nghiên cứu về cây dâu cho thấy có chứa thành phần chủ yếu là flavonoid và có tác dụng chống oxy hóa tốt 41. Để góp phần cung cấp những cơ sở tiền đề cho việc ứng dụng nguyên liệu lá dâu trong chăm sóc sức khỏe, bài báo công bố một số thành phần hóa học được phân lập từ lá dâu tằm.

Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguyên liệu

Mẫu cây dâu tằm được thu hái vào tháng 6 năm 2016 tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

 

Mẫu dâu tằm thu hái tại Thái Nguyên

 

Mẫu thực vật (số hiệu: 10/16/SMP) đã được ThS. Nguyễn Thu Hương, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội giám định tên khoa học là: Morus alba L., họ Dâu tằm (Moraceae).

Hóa chất, thiết bị

- Sắc ký lớp mỏng: sử dụng bản mỏng nhôm tráng sẵn silicagel 60 FT Merck, độ dày 0,2 mm. Sau khi triển khai sắc ký, bản mỏng được kiểm tra bằng đèn tử ngoại ở bước sóng 254, 365 nm sau đó hiện màu bằng thuốc thử là dung dịch H2SO, 10% trong ethanol.  

- Sắc ký cột: sắc ký cột sử dụng silicagel cỡ hạt 0,063-0,200 mm (Merck) và cỡ hạt 0,040- 0,063 mm (Merck) với các loại cột sắc ký có kích cỡ khác nhau.

- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) được ghi trên máy Bruker Avance 500 MHz, phổ khối (ESI-MS) đo trên máy Varian Agilent 1100 LC-MSD tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. | Đo nhiệt độ nóng chảy trên máy SMP10 BioCote tại Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Đo góc quay cực riêng trên máy PLR-4, MRC scientific instruments tại Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Chiết xuất và phân lập

Lá dâu được thu hái, rửa sạch, phơi và sấy khô ở 50°C, nghiền nhỏ thu được bột thô. Lấy 6,0 kg bột khô (đã trừ độ ẩm) đem ngâm chiết với 9,0 lít methanol/ lần x 4 lần ở nhiệt độ phòng, mỗi lần 48 giờ. Các dịch chiết được gom lại, lọc qua giấy lọc và cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu được 520 g cắn. chiết methanol. Cắn chiết được phân bố vào nước cất vừa đủ và tiến hành chiết lần lượt với n-hexan, ethylacetat. Các dịch chiết n-hexan, ethylacetat và phần nước còn lại được cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm thu được các cắn n-hexan (A, 60 g), cắn ethylacetat (B, 75 g) và cắn nước (C, 42 g).

 

Cắn ethylacetat (B, 50 g) được hòa tan trong lượng dung môi vừa đủ và trộn với silicagel (150 g), sau đó cất loại dung môi để được dạng bột tơi, tiến hành sắc ký cột với chất hấp phụ silica gel, kích thước cột 60 cm x 10 cm (chiều dài x đường kính cột), dung môi rửa giải dicloromethan : methanol với độ phân cực của dung môi tăng dần (từ 20:1 đến 0:1) thu được 4 phân đoạn B1 (6,0 g), B2 (7,5 g), B3 (12,0 g) và B4 (10,0 g). Phân tách phân đoạn B3 trên sắc ký cột với chất hấp phụ pha đảo (ODS) sử dụng YMC-gel, kích thước cột 80 cm x 1,5 cm (chiều dài chất nhồi 70 cm), sử dụng hệ dung môi rửa giải aceton : nước (2:5, vv) thu được 4 phân đoạn nhỏ là B3.1 (2,1 g), B3.2 (3,1 g), B3.3(1,9g), B3.4 (3,6 g). Phân đoạn B3.3 được chạy qua cột Sephadex LH-20 với hệ dung môi methanol nước | 01:1 v/v) thu được hợp chất 1 (10 mg). Phân đoạn B3.4 phân tách chất trên cột silica gel pha thường với hệ | dung môi rửa giải aceton:diclometan:nước (5/1/0,1) thu được hợp chất 2 (12 mg) và phân đoạn nhỏ B3.4.1. Phân đoạn B3.4.1 tiếp tục được chạy qua cột silica gel với hệ dung môi chloroform methanol:nước (6:1:0,01 v/v) thu được hợp chất 3 (15 mg).

Kết quả

Từ phân đoạn dịch chiết ethylacetat của lá cây dâu tằm thu hái tại tỉnh Thái Nguyên, sử dụng phương pháp sắc ký đã phân lập, xác định cấu trúc phân tử 3 hợp chất là: maesopsin-4-O-glucosid (1), leonurisid A (2), eriodictyol (3). Cấu trúc của 3 hợp chất được xác định thông qua kết quả đo nhiệt độ nóng chảy, phổ tử ngoại, phổ khối, phổ cộng hưởng hạt nhân và so sánh với các dữ liệu công bố của các hợp chất liên quan. Các hợp chất này lần đầu tiên phân lập được từ lá cây dâu tằm.

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Hà Nội, đề tài “Phát triển sản phẩm thực phẩm chức năng và mỹ phẩm làm sáng da, chống nám từ nguyên liệu thiên nhiên Việt Nam”, mã số: QG.16.86

 

Tài liệu tham khảo

1. Phan Văn Chiêu (2013), Đông Nam Dược Nghiệm Phương, Nhà XB Thuận Hóa, tr. 318-320.

2. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà XBY học, tr. 720-723.

3. Bao Jun Xu, Yu Qiu Deng (2003), “Chemical compositions of the genus Hovenia", J. Natural Produc Science, 9(3), 143-153.

4. Deepa M., Sureshkumar T., Satheeshkumar P. K., Priya S. (2013), “Antioxidant rich Morus alba leaf extract induces apoptosis in human colon and breast cancer cells by the downregulation of nitric oxide produced by inducible nitric oxide synthase” Nutr. Cancer, 65(2), 305-310.

5. Seoung Rak Lee, Jon Clardy, Donald Robert Senger, Shugeng Cao, Ki Hyun Kim (2016), “Iridoid and phenylethanoid glycosides from the aerial part of Barleria lupulina", Revista Brasileira de Farmacognosia, 26, 281–284.

6. Yoshiaki Miyake and Masanori Hiramitsu (2011), "Isolation and extraction of antimicrobial substances against oral bacteria from lemon peel", J. of Food Science and Technol., 48(5), 635–639.

 

 

 

 

Từ khóa: Dâu tằm

Có thể bạn quan tâm

Các thông tin trên Website được dựa trên Cuốn Danh lục cây thuốc Việt Nam, cây thuốc và động vật làm thuốc