Tôm Càng Tên tiếng việt: Tôm càng, Tôm đồng, tôm nước ngọt. Tên khoa học: : Macrobrachium nipponense De Haan Họ: Palaemonidae Công dụng: có tác dụng bổ dương khí, lợi sữa, giải độc, chống nôn.
Mô tả chi tiết
  1. Mô tả

Loài giáp có vỏ cứng nhẩn, dài 8-12 cm, không kể càng, nặng khoảng 8 - 10 g, con to đạt đến 15 g. Phần đầu và ngực có 14 đốt được bọc trong một vỏ giáp liền (giáp đầu - ngực), mắt có cuống, hai đôi râu xúc giác, chân phân đốt. Ba đôi chân ngực trước biến đổi thành chân hàm dùng để bắt và giữ mồi, 5 đôi chân ngực sau biến thành chân bò, trong đó, có một đôi phát triển thành kìm đùng để tự vệ và bắt mồi. Phần bụng gồm 7 đốt, 6 đôi chân bơi phân hai nhánh, đốt cuối cùng hợp với chân bơi tạo thành đuôi quạt nước.

Loài tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergli) có ở miền Nam, với kích thước lớn hơn, dài đến 22 cm, nặng trung bình 100 - 110 g, cũng được sử dụng.

2. Phân bố, sinh thái

Loại tôm nước ngọt, phân bố ở miền Bắc Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản. Tôm càng sống ở hồ, ao, đầm, lạch vùng đồng bằng, trung du và miền núi, ăn tạp. Thức ăn chủ yếu gồm giun tơ, bọ que, động vật thân giáp nhỏ hơn ở đáy, mùn bã hữu cơ, tảo... Tôm càng đẻ trứng trực tiếp vào nước; trứng thụ tinh thành phôi rổi nở ra ấu trùng; sau đó, trải qua nhiều giai đoạn biến đổi phức tạp mới biến thành tôm con và lột xác nhiều lần để trở thành tôm trưởng thành. Ở giai đoạn đầu, ấu trùng tôm càng sống trôi nổi ở tầng nước trên, đến khi ăn động vật đáy thì sống ở đáy.

3. Bộ phận dùng

Tôm càng được đùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là hà ngư hay hà mễ. Chủ yếu dùng tươi, đôi khi phơi khô, làm bột.

4. Thành phần hóa học

Thịt tôm càng tươi chứa 18,4% protid, 1% lipid, 161 mg% Ca, 292 mg% Fe, 0,02 mg% vitamin BÉ, 0,03 mg% vitamin B2, 3,2 mg% vitamin PP và cung cấp 92 calo (Viện dinh dưỡng). Ngoài ra còn có 125 mg% cholesterol, 0,18 mg% melatonin và acid béo omega-3.

Vỏ tôm càng có các polysaccharid

5. Tính vị, công năng

Tôm càng có vị ngọt, tanh, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ dương khí, lợi sữa, giải độc, chống nôn.

6. Công dụng

Theo kinh nghiệm dân gian, để bồi dưỡng cho trẻ nhỏ cứng cáp, chóng biết đi, chống suy dinh dưỡng, người ta lấy tôm càng tươi để nguyên càng, chân, đuôi, chỉ bỏ đầu, rửa sạch, rang nhỏ lửa cho khô giòn, rồi giã nhỏ, rây lấy bột mịn. Hàng ngày, dùng bột tôm quấy với bột gạo cho trẻ ăn, mỗi lần 1-2 thìa nhỏ. Có thể giã hay xay nhuyễn thịt tôm tươi rồi nấu cháo. Có người còn ninh thêm chân gà.

Phụ nữ đẻ thiếu sữa, dùng tôm càng tươi (nửa bát) bóc bỏ vỏ, giã nát, tẩm với ít rượu nếp và muối, hấp chín, ăn trong ngày. Tôm càng tươi nấu canh ăn đều hàng ngày chữa được bệnh báng; rang với dầu vừng, ăn lại chữa chứng cận thị, đái dầm ở trẻ em. Tôm càng (20 g) phối hợp với ngài tằm đực (7 con, sao giòn) giã nát, trộn với trứng gà (2 quả) rán hoặc hấp chín ăn chữa liệt dương, mộng tinh

Dùng ngoài, lấy tôm càng tươi giã nát, đắp hoặc phơi khô, làm bột rắc chữa bệnh ngoài da, nóng đỏ, nổi mụn.

Viện Hóa học thuộc Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia đã nghiên cứu chiết được từ các polysaccharid trong vỏ tôm càng chất chitosan để pha chế thuốc chữa bỏng. Thuốc không gây tác dụng phụ, không làm vết bỏng nhiễm trùng và có khả năng kích thích các tế bào biểu mô làm cho vết thương mau lành. Ngoài ra, chitosan còn có tác dụng trong việc tạo nên tác động kích thích miễn dịch và chống khối u, như một chất kháng acid tự nhiên trong việc cải thiện khả năng hấp thu calci, giảm lượng acid uric trong máu, giảm cholesterol. Các nhà khoa học còn cho thấy chitosan có thể cải thiện tiến trình thay đổi tế bào và gia tăng các tế bào của vỏ xương.

Theo tài liệu nước ngoài, ờ Trung Quốc, tôm càng tươi được dùng phổ biến dưới dạng món ăn - vị thuốc gia truyền rất đa dạng và phong phú như sau:

- Thuốc bổ dưỡng: Tôm càng (12 con) bóc vỏ, băm nhỏ; cùi dừa (15 g) nạo thành sợi, lòng đỏ trứng (50 g). Tất cả trộn đều, nặn thành nhũng bánh mỏng, rán bằng đầu lạc, ăn trong ngày.

- Thuốc tăng tiết sữa: Tôm càng tươi (100 g) cắt nhỏ, xào với 20 ml rượu trắng hoặc rang tôm rồi đảo với rượu. Ắn trong ngày.

- Thuốc kích thích sinh dục: Tôm càng tươi (100 g) xào với lá hẹ (25 g) hoặc quả ớt ngọt (50 g) thêm ít rượu 40°; hoặc trứng tôm (20 g) nấu canh với trứng chim sẻ (2 - 3 quả). Ăn trong ngày.

- Thuốc giảm đau lưng: Tôm càng tươi (100 g), chỉ lấy thịt ngâm vào rượu nếp trong 10-15 phút. Vớt ra, xào chín ăn.

 

TRA CỨU DƯỢC LIỆU

  • {{ content.fields.name }}

Có thể bạn quan tâm

Các thông tin trên Website được dựa trên Cuốn Danh lục cây thuốc Việt Nam, cây thuốc và động vật làm thuốc