Tra cứu dược liệu https://tracuuduoclieu.vn Wed, 20 Aug 2025 09:47:58 +0700 vi hourly 1 Cao cẳng lá mác https://tracuuduoclieu.vn/cao-cang-la-mac.html https://tracuuduoclieu.vn/cao-cang-la-mac.html#respond Sat, 24 Dec 2022 08:51:44 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=70034 Mô tả cây
  • Cây thân thảo, sống lâu năm. Thân rễ bò dài, phía ngọn chếch lên, dài đến 65cm, đường kính 3-5mm, có đốt, có rễ to.
  • Lá xếp 4-7 cái thành túm, phiến lá xoan thon hay hình mác thon, phần gốc thon nhọn dần thành cuống, dài 5.5-14cm, rộng 1.8-3.5cm, mặt trên màu lục, mặt dưới màu lục tro, có nhiều gân phụ, cuống lá dài 2-7cm.
  • Cụm hoa chùm cao 8-12c, có 10-20 hoa. Hoa có cuống dài 4-6mm, màu trắng. Bẹ hoa 6, hình ngọn giáo dạng trứng, dài 4-6mm, màu trắng. Nhị 6. Bầu trong 8 ô.
  • Quả có cuống ngắn, hình trái xoan, dài 8-9, hạt hình bầu dục.
  • Mùa ra hoa: Tháng 5-6.
  • Mùa quả: Tháng 7-12.

Phân bố

  • Cao cẳng mọc ở nơi đất ẩm, nhiều mùn, dưới tán rừng lá rộng, rừng trẻ nứa.
  • Ở Việt Nam, phân bố ở các tỉnh Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hòa Bình, Ninh Bình, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng.

Bộ phận sử dụng

Thân rễ- Rhizoma Ophiopogonis.

Tính vị

Có vị ngọt, tính bình.

Công dụng 

Dùng trị tim đập mạnh và loạn nhịp, bệnh về tim do phong thấp, lao phổi , viêm phế quản mạn tính, viêm nhánh phế quản.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/cao-cang-la-mac.html/feed 0
Ngà voi https://tracuuduoclieu.vn/nga-voi.html https://tracuuduoclieu.vn/nga-voi.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:23:43 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57050 Mô tả
Hoa ngà voi
Hoa ngà voi

Cây có thân rễ mảnh, sống nhiều năm, cao 50 – 60 cm. Các bộ phận lá, hoa và quả của cây ngà voi được mô tả như sau:

  • Lá mọc thẳng từ thân rễ thành túm 4 – 5 cái, xếp thành hai dãy, phiến hình trụ cứng và đứng thẳng, dài 0,6 – 1m, đường kính 3 – 4 cm, có rãnh, gốc có bẹ, đầu thuôn nhọn, mặt trên lá có những đốm màu lục sẫm và lục sáng xen kẽ nhau tạo thành những khía và những vân vòng tròn.
  • Cụm hoa mọc từ kẽ lá thành chùm dài thẳng đứng, hoa màu trắng có bao hoa chia 6 thùy tạo thành ống mảnh; nhị 6 mọc thò ra ngoài bao hoa; bầu có 3 ô, mỗi ô chứa một noãn.
  • Quả mọng có 3 ngăn, mỗi ngăn đựng một hạt, đôi khi chỉ có một ô, còn 2 ô bị thui chột.

Phân bố, sinh thái

Cây ngà voi
Cây ngà voi

Chi Sansevieria Thunb. có tổng số khoảng 60 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Phi, một số loài ở Nam Á và Đông Nam Á. Chi này ở Việt Nam có 4 loài và 2 thứ, đều là cây nhập trồng làm cảnh.

Ngà voi là loài cây ưa sáng và có khả năng chịu hạn tốt. Cây có thể trồng canh tác chỉ cần tưới khoảng một tuần một lần trong mùa sinh trưởng. Nó được ưa chuộng làm cây cảns vì dễ trồng và chăm sóc tại nhà.

Bộ phận dùng: Lá.

Thành phần hoá học

Lá ngà voi chứa: các steroid, flavonoid, saponin, tannin và các acid phenolic.

Tác dụng dược lý

Lá ngà voi được thử nghiệm và chứng minh có tác dụng trên hoạt động của hệ tim mạch.

Công dụng

Lá ngà voi được dùng giã đắp chữa sưng tấy, sai khớp.

Trong y học cổ truyền Ấn Độ, lá ngà voi được dùng chữa bệnh về tim.

Bài thuốc chữa bệnh từ cây ngà voi

Cây ngà voi chữa bệnh viêm xoang

Lấy 10 lá ngà voi, 100g hoa ngũ sắc đem rửa sạch tất cả nguyên liệu trên bằng nước muối khoảng 15 phút. Cắt nhỏ rồi giã nát các nguyên liệu, chắt lấy nước cốt và bỏ bã. Nước đã chắt đem cho vào chai nhỏ hoặc chén để dùng dần.

Rửa sạch mũi, sau đó, nhỏ 2 đến 3 giọt nước đã chuẩn bị ở trên vào trong mũi, mỗi ngày 2 lần, dùng liên tục trong vòng một tuần sẽ thấy hiệu quả rõ rệt.

Ngà voi chữa sưng tấy, sai khớp

Lá ngà voi (khoảng 5-7 lá ) rửa sạch, cắt khúc, giã nát và đắp lên khớp sưng. Giúp giảm sưng đau tại các khớp

Ngà voi hỗ trợ bệnh tim

Lấy 3-4 lá cây ngà voi, đem rửa sạch rồi cắt thành từng khúc nhỏ, cho vào cối giã nát với vài hột muối biển.

Chắt lấy phần nước cốt cho vào chén, bỏ bã rồi đem hấp cách thủy cho nóng và dùng dẫn. Mỗi ngày một thang, dùng liên tục trong 5-7 ngày, theo dõi nếu thấy các triệu chứng yếu tim suy giảm thì ngưng sử dụng và tái khám để kiểm tra tình hình sức khỏe hiện tại.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/nga-voi.html/feed 0
Ngô đồng https://tracuuduoclieu.vn/ngo-dong-2.html https://tracuuduoclieu.vn/ngo-dong-2.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:22:40 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57061 Mô tả
  • Cây to, cao 20 – 30m.
  • Lá đa dạng, kép chân vịt, mọc so le, hình tim, từ nguyên đến xẻ 3 – 5 thuỳ hình tam giác, gốc xẻ sâu thành 2 thuỳ tròn to, đầu từ thuôn nhọn, hai mặt hơi có lông, sau nhẵn; cuống lá dài.
  • Cụm hoa mọc ở ngọn thành chùy phân nhánh, có lông mềm; đài 5 răng hình trứng ngắn, có lông sắt ở mặt ngoài. Hoa đực có cuống bộ nhị nhăn và bầu lép có lông, chia 5 cạnh. Hoa lưỡng tính có bầu hình cầu có lông, vòi nhụy ngắn, đầu nhụy chia 5 thuỳ.
  • Quả gồm 5 đại, mở trước khi chín, hạt hình cầu.
  • Mùa hoa: tháng 5 – 7; mùa quả: tháng 8 – 10.

Phân bố, sinh thái

Chi Firmiana Marsili ở Việt Nam chỉ có 2 loài. Một loại phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc, và loài ngô đồng chỉ thấy ở phía Nam: Khánh Hoà (Cam Ranh, Nha Trang) và Bà Rịa – Vũng Tàu (Bà Rịa), Quảng Nam (Cù Lao Chàm) và có thể có ở Ninh Thuận, Bình Thuận.

Ngô đồng là cây gỗ mọc nhanh, ưa sáng và có khả năng chịu hạn tốt. Cây thường mọc ở rừng thưa nửa rụng lá hoặc rừng khô ở vùng ven biển. Cây cũng được trồng để lấy sợi (Từ điển cây thuốc Việt Nam, 1997). Cây trưởng thành ra hoa quả hàng năm. Tái sinh tự nhiên tốt từ hạt.

Bộ phận dùng:

Rễ, vỏ, hoa, hạt và lá.

Thành phần hóa học

Hạt chứa 40% dầu, thành phần chính là acid sterculic, palmitic, oleic, linoleic và cafein [Võ Văn Chi, 1996, Từ điển cây thuốc Việt Nam, tr 97], [Phạm Hoàng Hộ, 2006, Cây có vị thuốc ở Việt Nam, tr.103].

Theo các tác giả Trung Quốc, ngô đồng chứa nhiều triterpen [Trung dược từ hải, vol.3, p.209 – 212]. Ngoài ra còn tìm thấy β – amyrin, betain, cholin (CA, 1991, 115, 46076a) lupeol, octacosanol (CA, 1991, 114, 139814j), kaemferol – 3- O – β – D – rutinosid (CA,1991, 114, 244264C) [Fitoterapia 1990, 61 (4) 373], quercetin – 3- O – β – D – neohespe – ridosid, hyperosid và glucosamin [CA, 1991, 115, 46076a].

Tác dụng dược lý

Tác dụng chống loạn tâm thần:

Một neolignan mới là simplidin có tác dụng chống loạn tâm thần (antipsychotic effect) đã được phân lập từ cao n – butanol của thân cây ngô đồng (Son YK et al., 2005).

Độc tính cấp:

Cao chiết nước toàn cây ngô đồng (cả gỗ thân, cành và lá) thử trên chuột nhắt trắng tiêm tĩnh mạch có liều chết trung bình LD50 = 8,3g/kg thể trọng chuột [Kee Chang Huang, 1999: 124].

Tác dụng trên cholesterol huyết và huyết áp:

Cao chiết bằng ethanol toàn cây ngô đồng làm giảm hàm lượng cholesterol trong huyết tương, nhưng không ảnh hưởng đến hàm lượng triglycerid. Cao cũng có tác dụng giãn mạch, làm tăng lưu lượng mạch vành và làm giảm huyết áp ngoại biên [Tài liệu đã dẫn].

Tính vị, công năng

  • Rễ và vỏ cây ngô đồng vị đắng, tính mát, có công năng trừ phong thấp, tiêu viêm, sát trùng.
  • Hoa và hạt vị ngọt tính bình, có công năng nhuận phế, hoà vị, tiêu tích trệ.
  • Lá ngô đồng vị ngọt, tính bình, có công năng thanh nhiệt giải độc, an thần, giáng tiêu viêm, làm hạ cholesterol.

Công dụng

Rễ ngô đồng được dùng chữa thấp khớp, viêm khớp dạng thấp, đau nhức xương. Ngày dùng 15 – 30g sắc lấy nước uống. Có thể dùng lá thay rễ còn dùng chữa lao phổi, thổ huyết, bạch đới, đòn ngã tổn thương.

Vỏ cây ngô đồng được dùng chữa trĩ, lòi dom, tóc bạc. Lấy vỏ cây hoặc vỏ cành bỏ lớp bần ở ngoài, chỉ lấy lớp trắng ở bên trong, đốt thành than nghiền thành bột trộn với dầu thực vật, rồi bối vào chỗ trĩ hoặc bôi vào chân tóc bạc.

Lá ngô đồng được dùng chữa cao huyết áp, bệnh mạch vành, tăng cholesterol huyết. Lấy lá ngô đồng 5 – 10g (10 – 20g tươi) sắc uống, ngày 1 thang. Để chữa thấp khớp đau nhức xương, suy nhược thần kinh, di tinh, bất lực, dùng 15 – 30g sắc uống, ngày một thang. Dùng ngoài, lấy lá khô, tán thành bột mịn hòa với mật ong bôi lên chỗ sưng tấy, mụn nhọt, lở loét.

Hoa ngô đồng được dùng chữa thuỷ thũng, bỏng chốc đầu, lở loét ngoài da. Để chữa thuỷ thũng, lấy hoa ngô đồng 10 – 15g sắc uống, ngày một thang. Để chữa bỏng, chốc đầu, lở loét, lấy hoa ngô đồng khô tán thành bột mịn, hòa với dầu thực vật bôi lên chỗ đau.

  • Ở Trung Quốc, rễ ngô đồng cũng được dùng để trị thấp khớp, đau nhức xương, chống sưng, phù, ngoài cách sắc uống, nếu là tươi, có thể dùng 30 – 60g giã nát, vắt lấy nước uống. Vỏ cây cũng được dùng chữa trĩ và tóc bạc sớm. Hạt được dùng chữa trĩ, viêm miệng, lở loét ngoài da.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/ngo-dong-2.html/feed 0
Bạch vi https://tracuuduoclieu.vn/bach-vi.html https://tracuuduoclieu.vn/bach-vi.html#respond Mon, 14 Jun 2021 02:26:00 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/bach-vi-vt.html Mô tả
  • Loại cỏ đa niên cao 30-70cm, toàn cây chứa chất mủ trắng, mọc hình hoa thị nhiều rễ sâu.
  • Thân đứng thẳng thường không phân nhánh, có bao phủ lông nhưng mềm màu trắng tro.
  • Lá mọc đối có khi mọc cách, cuống ngắn hình trứng rộng, dài 3-11cm, rộng 2-6cm, Mép lá nguyên hay lượn sóng nhẵn, hai mặt phủ lông mềm nhỏ.
  • Hoa màu đen tím mọc ở nách lá.
  • Quả dại dài 4-6 cm, nhiều hạt.
  • Rễ nhỏ (vi) mà màu trắng nên gọi là Bạch vi.

Phân bố

Ở Các vùng Liêu Ninh, Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây, An Huy

Thu hái, bào chế

Khoảng tháng 3-8, chọn rễ phơi trong râm cho khô.

Bào chế:

  • Nhặt sạch tạp chất, bỏ đi mầm cọng, rửa sạch, ngâm qua, ngấm ướt, cắt khúc, phơi khô.
  • Lôi công bào chích luận: Phàm sau khi lấy được Bạch vi, dùng nước gạo nếp ngâm 1 đêm, đến sáng lấy ra, bỏ râu, để trên thớt hòe cắt nhỏ, hấp, từ giờ tỵ đến giờ thân lấy ra dùng.
  • Cương mục: Rửa rượu dùng.

Mô tả dược liệu

Thân rễ khô hình viên trụ, hơi cong, thô nhỏ không đều, hướng mặt lên phủ khít đốt lồi là vết thân, mặt ngoài màu cam vàng hoặc vàng nâu, mặt ngoài thô, chót đỉnh thường có vết tàn của thân, phần tủy lõm sâu thành lỗ trống, chung quanh thân rễ mọc nhiều rễ phụ, thô khoảng 1,5cm, dài khoảng 6-15cm, hơi cong chất cứng giòn, rất rễ bẻ.

  • Mặt bẻ ngang màu vàng nâu, phần trong đặc, phần chất mọc màu vàng trắng, hình tròn, trường hợp lẫn lộn giữa Bạch vi và Bạch tiền rất phổ biến, do tập quán của mỗi nơi khác nhau, còn chưa được hoàn toàn thống nhất, như vùng Nam Kinh (Giang Tô), Tô Châu, lấy loại rễ phụ nhỏ mịn bên trong đầy là Bạch tiền, lấy thân rễ thô hơn, trong thân rỗng làm Bạch vi, mà vùng Thượng Hải thì ngược lại.
  • Dựa theo khảo chứng trên thực vật, nay cho rằng theo Thượng Hải là chính xác, còn Nam Kinh thì dùng lầm, lấy Bạch vi làm Bạch tiền.

Nên phân biệt rễ Bạch vi màu nâu hơi mềm, bẻ giòn hơn.

Phần dùng làm thuốc: thân rễ và rễ. Khi chọn được, lấy rễ ngâm với nước vo gạo 1 đêm lấy ra, để khô, bỏ râu, tẩm rượu sao dùng.

Thành phần hóa học

  • Chứa dầu bay hơi, cardiac glycoside v.v… (Trung dược học).
  • Rễ Bạch vi đứng thẳng hàm chứa Cynanchol, dầu bay hơi, cardiac glycoside (Từ điển)

Tác dụng dược lý

Chứa cynatratoside có tác dụng tăng cường co rút cơ tim, có thể làm cho nhịp tim giảm chậm.

Có tác dụng ức chế đối với khuẩn cầu viêm phổi, và có tác dụng giải nhiệt lợi niệu (Trung dược học).

  • Bạch vi có tác dụng cường tim khá mạnh, uống trong quá liều dễ gây ra phản ứng trúng độc dạng glucoside cường tim, liều trúng độc là 30 ~ 45g, có thể xuất hiện triệu chứng trúng độc tim hồi hộp, lợm lòng, nôn mửa, choáng đầu, đau đầu, tiêu chảy, chảy dãi, lâm sàng dùng thuốc nên cần chú ý (Trung dược học).

Vị thuốc Bạch vi

Vị thuốc Bạch vi 1

Hình ảnh vị thuốc Bạch vi

Tính vị: Vị đắng mặn, tính lạnh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Quy kinh: Vào kinh, Can Vị (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tác dụng: Thanh nhiệt hương huyết và giải độc, đồng thời có tác dụng lợi tiểu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Chủ trị: Trị sốt về chiều do âm hư, phát sốt trong bệnh ôn nhiệt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Liều dùng

  • Dùng từ 3-9g.

Bài thuốc có vị Bạch vị

Trị nghẹt mũi do Phế thực, mất khứu giác: Bạch vi, Bối mẫu, Khoản đông hoa, đều 30g, Bách bộ 60g, tán bột, mỗi lần uống 4g với nước cơm (Phổ Tế Phương).

Trị đàn bà bị huyết quyết: Hễ khi bình thường khỏe mạnh vô bệnh, đột nhiên như chết, người không động đậy, nhắm mắt, cấm khẩu hoặc biết người lơ mơ, có nhức đầu chóng mặt một lúc, khi tỉnh dậy xoay xẩm, có khi gọi là uất mạo vì ra mồ hôi quá nhiều: Bạch vi, Đương quy đều 30g, Nhân sâm 15g, Cam thảo 20g, tán bột, mỗi lần dùng 15g, sắc với hai chén nước còn 1 chén, uống nóng (Bạch Vi Thang- Bản Sự Phương).

Trị vết thương do dao búa đâm chém: Bạch vi tán bột rắc vào (Nho Môn Sự Thân).

Trị phụ nữ tiểu són trước hoặc sau có thai: Bạch vi, Thược dược mỗi thứ 30g, tán bột, uống 1 thìa với rượu, ngày 3 lần, có thể dùng để trị huyết lâm, nhiệt lâm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị ra mồ hôi trộm nóng âm ỉ: Bạch Vi, Địa cốt bì, mỗi thứ 12g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị phát sốt do huyết hư sau khi sinh, hôn quyết: Bạch vi, Đương quy, Đảng đều 9g, sắc uống (Bạch Vi Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị viêm niệu đạo, tiểu đỏ sẻn, nóng sốt, tiểu tiện rít đau: Bạch vi, Mộc thông đều 9g, Trúc diệp, Hoạt thạch đều 12g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị đinh nhọt ung sưng, sưng đau họng, thanh quản, đồng thời dùng trong trường hợp rắn độc cắn: Dùng cả cây Bạch vi giã nát đắp lên nơi rắn độc cắn, đinh nhọt, sưng vú, nơi đau nhức (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Kiêng kỵ:

  • Ngoại cảm phong hàn và huyết hư không có nhiệt cấm dùng.
  • Không dùng chung với vị thuốc Hoàng kỳ, Đại hoàng, Đại kích, Can khương, Đại táo, Can tất, Sơn thù du (Bản Thảo Kinh Sơ).
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/bach-vi.html/feed 0
A ngùy https://tracuuduoclieu.vn/a-nguy.html https://tracuuduoclieu.vn/a-nguy.html#respond Tue, 08 Jun 2021 04:20:18 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/a-nguy-vt.html Mô tả

Cây a ngùy là một cây thuốc quý, dạng cây thảo sống lâu năm, cao từ 0,6 – 1m, cuống lá dẹp bao thân cây, lá chẻ, hoa nhỏ mầu vàng.

  • Dược liệu thường dùng là khối mủ ngưng kết lại có hình dạng lớn nhỏ không đều. Mầu tím nâu hoặc nâu sậm, có khi mầu trắng , vàng . Cứng nhưng khi bóp thì mềm, dính. Có mùi hôi.
  • Khi sử dụng, chọn loại mầu tím nâu, lâu ngày không bay mầu là tốt. Loại mầu nâu sậm có lẫn với phiến rễ và cát là loại hàng thứ phẩm.

Phân bố, thu hái

Cây a ngùy trồng và sản xuất chính ở Ba Tư và Trung Quốc. Vị thuốc này tại Việt Nam chưa trồng được, còn phải nhập.

  • Thu Hái: Theo ‘Trung Dược Đại Tự Điển” thu hái vào những tháng mùa Đông, trước khi ra hoa. Khi lấy mủ, dùng dao rạch thành rãnh ở vỏ cây, phần trên gốc, lấy lá lớn đậy lại. Mấy ngày sau thì mủ chảy ra và ngưng kết lại, cách khoảng 10 ngày sau lại làm như vậy để thu mủ rồi để dành dùng.

Bộ phận dùng làm thuốc

Dùng nhựa cây ở phần rễ sau khi nhựa ngưng kết lại (Assafoetida).

Mô tả dược liệu

Mô tả dược liệu 1

Hình ảnh vị thuốc A ngùy

A ngùy có hình dạng là khối méo mó, đông cứng như mỡ hoặc dính liền nhau. Mầu đậm nhạt không đều. Mặt ngoài thường màu nâu vàng hoặc nâu hồng.

  • Chất cứng hoặc hơi mềm mà dính, hơ nóng thì mềm ra. Thứ tươi mới cắt ra mầu tương đối nhạt, có thể thấy mầu sữa trắng xen lẫn mầu nâu nhạt hoặc nâu hồng, gọi là ‘Ngũ Thái A Ngùy’.
  • Có mùi hôi lâu tan, vị hơi cay, đắng (Dược Tài Học).
  • Loại tinh sạch, mùi nồng, lâu ngày không tan ra, chỗ cắt mầu trắng sữa là tốt. Nếu thành từng khối to màu nâu xám, lẫn tạp chất ở trong là kém.

Bào Chế

  • Lấy thứ tốt, không có tạp chất, cắt nhỏ, bỏ vào bát nhám mà nghiền hoặc thêm lẫn với thuốc khác mà nghiền thì dễ nhỏ.
  • Hoà tan A ngùy trong cồn 60 độ nóng, lọc, ép qua vải thưa, loại tạp chất, đến khi cho vào nước nghiền ra không dính tay là được, đun cách thuỷ cho rượu bay còn lại A ngùy.
  • Khi dùng nghiền bột, cho thêm vào một ít Hạnh nhân hoặc Đào nhân thì dễ nghiền nhỏ (Lôi Công Bào Chích Luận).

Bảo quản

  • Vì thuốc có mùi hôi nồng, cần để trong hộp thiếc kín, để riêng xa các vị thuốc khác cho khỏi lây mùi.
  • Nên để nơi mát, tránh nóng nếu không sẽ bay mất mùi tinh dầu.

Thành phần hóa học

Trong A ngùy có 10 – 17% chất dầu , 40 – 46 % chất nhựa, 25% chất keo, 1,5 – 10% chất tro và 60% các chất vô cơ, 45% Sec Butyl Profenyl Disulfide, Acid Ferulic, Farnesiferol và Umbelliferon (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

  • Farnesiferon A, B, C (Caglioti L và cộng sự, C A 1960, 54 : 616g).
  • Badrakemin, Coladonin Koladonin, Samarcandin acetate, Polyanthinin, Kamdonol, Gummosin Hofer O và cộng sự (Monatsh Chem 1984, 115 (10) : 1207).
  • Assafoetidin, Ferocolicin (Banerji A và cộng sự, C A 1988, 109 : 51717r).

Tác dụng dược lý

Trong loại Asafetida có mùi hôi, vị đắng mà cay, ảnh hưởng đến trường vị và hệ hô hấp (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

Ức chế độ cứng của hạch : Nước sắc A ngùy đắp bên ngoài có thể thấm vào các hạch cứng làm cho hạch mềm ra (Trung Dược Đại Từ Điển).

Ngừa giun : Dùng chung với Lưu Hoàng ( Sulfur ), Binh lang ( Areca Catechu L.) và Nhục quế (Cinnamomum Sp.) đổ vào bao tử chuột nhắt có thể làm cho chuột ít mắc phải giun móc ( Ankylostome) (Trung Dược Đại Từ Điển).

Tác dụng chống đông máu : Tiêm nước sắc A ngùy 10% vào tĩnh mạch chuột cống và chó với liều 2,5-10ml/kg thấy có khả kéo dài thời gian đông máu, bình quân 35-56%. Thí nghiệm trong ống nghiệm thấy thời gian ngưng kết huyết tương là 28-41% (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Tác dụng chống ung thư : dùng hợp chất JTc – Z6 thấy có tác dụng ức chế ung thư phát triển, tỉ lệ đạt 90% trở lên (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Tác dụng giảm đau, chống co giật : A ngùy có tác dụng với thần kinh, làm mềm gân cơ, chống co giật (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Vị thuốc a ngùy

Tính vị: Vị cay, tính ôn, không độc, mùi hôi nồng.

Quy Kinh:  Vào kinh Tỳ và Vị ( Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

Công dụng:

  • Tiêu tích, sát trùng, giải độc, trừ đờm, kích thích thần kinh, trừ mùi hôi thối, tống hơi độc ra. Trị tích, báng, sốt rét, cam tích, đau bụng, đau tim.
  • Trị thần kinh suy nhược, phế quản viêm mạn ( Tân Cương Trung Thảo Dược Thủ Sách).

10. Liều dùng

Dùng 0,12 – 2g chung với thuốc hoàn hoặc tán hoặc chế thành thuốc cao hoặc nấu thành cao bôi ngoài da.

Bài thuốc có vị thuốc a ngùy

Trị Khí tích, nhục tích, ngực bụng đầy trướng, đau hoặc đau lan ra 2 bên hông sườn, không muốn ăn uống:
Mộc hương 20g, Binh lang 20g, Hồ tiêu 10g, A ngùy 20g ( chế với giấm) . Làm hoàn, ngày uống 8 -12g với nước sắc vỏ Gừng sống (A Ngùy Hoàn – Phổ Tế phương)

Trị tích tụ, bỉ khối, thực ẩm, khí huyết tích tụ lại: A ngùy, Sơn tra nhục, Nam tinh, Bán hạ, Thần khúc, Hoàng liên, La bặc tử, Liên kiều, Bối mẫu, Qua lâu, Phong hoa tiêu, Thạch hàm, Hồ hoàng liên , Bạch giới tử. Tán bột, tẩm nước Gừng, nấu chín bánh làm thành viên, mỗi lần uống 8g với nước nóng. Sau khi uống thuốc, ăn vài trái Hồ đào. Người suy yếu không được dùng bài này (A Ngùy Hoàn – Vệ Sinh Bảo Giám ).

Trị tích tụ, bỉ khối, thực ẩm, khí huyết tích tụ lại: A ngùy 20g, Bạch giới tử 100g, Bạch truật 120g, Tam lăng 80g, Nga truật 80g. Sao khô, tán bột. Lấy A ngùy chưng với rượu cho chảy ra, hòa thuốc bột trên làm thành hoàn. Ngày uống 12 – 16g với rượu (A Ngùy Hoàn – Hà Nhật Trung Thủ Tập)

Trị tích khối: A ngùy, Nhũ hương, Một dược, Mang tiêu đều 80g. Tán bột. Đại hoàng 80g, Bạch giới tử 120g, Mộc miết tử 21 hột ( bỏ vỏ ), Xuyên sơn giáp 60g, Nhục quế 60g, Độc hoạt 60g, Loạn phác ( tóc ) 80g. Dùng dầu mè 1.600g nấu cho đến khi thấy dầu có sắc đen, bốc hết mùi thì cho thuốc bột và Hoàng đơn vào nấu đặc thành cao, dùng để bôi ngoài da (Hà Nhật Trung Thủ Tập).

Trị nhục tích, bỉ khối, ăn không tiêu: Nhân sâm, Quất hồng, Tam lăng, Nga truật, Sa nhân . Nấu, thêm Xạ hương, Lưu hoàng, Tô hợp thành cao, dùng để bôi ( Trung Quốc Y Học Đại Từ Điển ).

Trị bụng đau: A ngùy nghiền nhỏ uống 4 – 8g với rượu nóng (Vĩnh Loại Kiềm phương).

Kiêng kỵ :

  • Người Tỳ Vị hư yếu, ăn ít, ăn vào lập tức nôn dữ dội, tiêu chảy, cơ thể gầy yếu : không dùng (Bản Thảo Cầu Chân).
  • Người Tỳ Vị suy yếu, phụ nữ có thai không nên dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/a-nguy.html/feed 0
Việt quất https://tracuuduoclieu.vn/viet-quat.html https://tracuuduoclieu.vn/viet-quat.html#respond Tue, 06 Apr 2021 08:21:14 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=54234 Mô tả cây 
  • Dạng cây bụi cao khoảng 30-60 cm. Có thể cao đến 3m.
  • Thân cây có ít nhánh, màu sắc có thể thay đổi từ xanh lá cây đến đỏ đến nâu. Các chồi sinh dưỡng có hình tam giác.
  • Lá hình elip, có cuống ngắn.
  • Hoa dạng chùm. Hoa dạng hình chuông, màu trắng, màu hồng nhạt hoặc đỏ, đôi khi nhuộm màu xanh.
  • Quả mọng, có màu xanh lam khi chín.

Phân bố, sinh thái

Chi Vaccinium L. là một chi lớn, các loài phân bố chủ yếu ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Nhiều loài được bán thương mại với tên thông dụng tiếng Anh bao gồm “blueberry” đến từ Bắc Mỹ, đặc biệt là Đại Tây Dương, Canada và Đông Bắc Hoa Kỳ.

Hiện nay, việt quất được trồng thương mại ở Nam bán cầu ở Úc, New Zealand và các quốc gia Nam Mỹ.

Thành phần hóa học

  • Lá việt quất: tannin, flavonoid, Iridoids monoterpenic, Axit phenolic, Alkaloid.
  • Quả việt quất chứa anthocyanins , các polyphenol khác và các chất phytochemical khác nhau, tannin, flavonoid, Iridoids, Pectin.

Giá trị dinh dưỡng trên 100 g

Năng lượng 240 kJ (57 kcal)

  • Carbohydrate 14,49 g
  • Đường 9,96 g
  • Chất xơ 2,4 g
  • Chất béo 0,33 g
  • Chất đạm 0,74 g

Vitamin

  • beta-Caroten 32 μg
  • lutein zeaxanthin 80 μg
  • Vitamin A 54 IU
  • Thiamine (B1) 0,037 mg
  • Riboflavin (B2) 0,041 mg
  • Niacin (B3) 0,418 mg
  • Axit pantothenic (B5) 0,124 mg
  • Vitamin B6 0,052 mg
  • Folate (B9) 6 μg
  • Vitamin C 9,7 mg
  • Vitamin E 0,57 mg
  • Vitamin K 19,3 μg

Khoáng chất

  • Canxi 6 mg
  • Magiê 6 mg
  • Mangan 0,336 mg
  • Phốt pho 12 mg
  • Kali 77 mg
  • Natri 1 mg
  • Kẽm 0,165 mg

Các thành phần khác: Nước 84 g

Công dụng

Quả việt quất là loại trái cây nhập khẩu được nhiều người Việt Nam ưa chuộng nhờ hương vị thơm ngon, bổ dưỡng.

Giúp xương chắc khỏe

Tác dụng của quả việt quất có thể giúp xương bạn chắc khỏe nhờ có chứa các chất như sắt, phốt pho, canxi, magiê, mangan, kẽm và vitamin K.

Kẽm và sắt đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của xương. Vitamin K giúp bạn bổ sung canxi cho xương và giảm thiểu nguy cơ nứt xương. Quả việt quất là một trong những loại thực phẩm tăng cường dinh dưỡng cho trẻ em và có thể được bổ sung vào bữa ăn để giúp bé có được sức khỏe tốt hơn.

Tác dụng của quả việt quất giúp giảm huyết áp

Bản thân quả việt quất tươi không hề chứa natri mà chỉ chứa các loại chất như kali, canxi và magiê, giúp duy trì huyết áp ở mức ổn định.

Kiểm soát bệnh tiểu đường

Một nghiên cứu được xuất bản trong tập san y khoa của tập đoàn BMJ vào năm 2013 cho thấy một số loại trái cây (không phải là nước ép) có thể làm giảm rủi ro của bệnh tiểu đường tuýp 2 ở người lớn (bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 là những người đã cải thiện được lượng đường, lượng chất béo và lượng insulin trong cơ thể).

  • Trong suốt quá trình nghiên cứu, có đến 6,5% người tham gia đang gia tăng bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu nhận thấy tiêu thụ 3 khẩu phần việt quất, nho, nho khô, táo hoặc lê mỗi tuần có thể giúp những bệnh nhân này giảm thiểu nguy cơ tiểu đường loại 2 đến 7%.

Trái việt quất giúp ngừa bệnh tim mạch

Trong quả việt quất không chứa cholesterol nhưng lại chứa các dưỡng chất tốt cho sức khỏe như chất xơ, kali, folate, vitamin C và vitamin B6, là những chất hỗ trợ rất tốt cho sức khỏe của tim. Chất xơ trong quả giúp hạ thấp lượng cholesterol trong máu và cải thiện sức khỏe hệ tim mạch.

  • Theo nghiên cứu gần đây từ trường Y tế cộng đồng Harvard và Đại học East Anglia, quá trình chống oxy hóa có thể giúp cơ thể giảm 32% nguy cơ bị đau tim và đột quỵ đối với phụ nữ ở tuổi thanh niên và trung niên.
  • Nghiên cứu do chuyên gia dinh dưỡng thực hiện cho thấy tiêu thụ ít nhất ba phần việt quất hoặc dâu tây mỗi ngày sẽ cho kết quả tốt nhất cho phụ nữ.

Cải thiện tinh thần sức khỏe

Tác dụng của quả việt quất có thể giúp bạn tăng cường và cải thiện trí nhớ, để bạn cảm thấy thư giãn hơn cũng như giảm thiểu bệnh Parkinson – bệnh gây ra sự rối loạn thoái hóa thần kinh phát sinh do các tế bào bị ngưng hoạt động ở nhiều phần của bộ não.

Tác dụng của quả việt quất giúp ngăn ngừa ung thư

Vitamin C, vitamin A và các dưỡng chất thực vật khác nhau trong quả việt quất có tác dụng tương tự chất chống oxy hóa mạnh, bảo vệ các tế bào, ngăn ngừa khối u, giảm viêm và giúp phòng ngừa và làm chậm sự phát triển của một số loại ung thư: ung thư thực quản, ung thư phổi, tuyến tiền liệt và ung thư kết trực tràng…

Tăng cường hệ tiêu hóa

Theo báo cáo của USDA, trong 100g việt quất có chứa 2,4g chất xơ. Tác dụng của quả việt quất có thể giúp bạn ngăn ngừa táo bón và giúp cho hệ tiêu hóa của bạn được khỏe mạnh do có hàm lượng chất xơ cao.

  • Ngoài ra, theo chế độ ăn kiêng do cơ quan sức khỏe của Mỹ đề xuất, mỗi ngày phụ nữ nên ăn 21–25g chất xơ và đàn ông là 30–38g.

Chống oxy hóa

Vitamin C được xem như là một dưỡng chất cần thiết giúp bạn tránh khỏi sự lão hóa da dưới tác động của ánh nắng mặt trời, ô nhiễm và khói bụi. Chỉ cần uống một tách việt quất là bạn đã cung cấp tới 24% lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể mỗi ngày.

Sản phẩm có thành phần Việt quất trên thị trường hiện nay

Sáng mắt Tuệ Linh

Công dụng 1

 

 Công dụng

  • Hỗ trợ tăng cường lực, giúp sáng mắt, chống mỏi mắt, mờ mắt, khô mắt.
  • Hỗ trợ phòng ngừa các tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị). Hỗ trợ giảm cận thị tiến triển
  • Hỗ trợ tăng cường sức khỏe cho đôi mắt, phòng lão hóa mắt, các bệnh đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng.

 

 

 

 

Sáng mắt Tuệ Linh – Giúp mắt sáng khỏe mỗi ngày

Trên đây là một số thông tin về hình ảnh, liều lượng công dụng của cây Việt quất. Nếu cần tư vấn và tìm hiểu thêm về cây Việt quất và các loại cây dược liệu khác bạn có thể liên hệ qua số tổng đài tư vấn 1800.1190 (miễn phí tư vấn) hoặc đặt câu hỏi của bạn ở mục ý kiến ở cuối bài viết, Tra cứu dược liệu sẽ giải đáp những thắc giúp bạn có thêm những thông tin đáng tin cậy.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/viet-quat.html/feed 0
Nần nghệ https://tracuuduoclieu.vn/cay-nan-nghe.html https://tracuuduoclieu.vn/cay-nan-nghe.html#respond Thu, 18 Jun 2020 08:36:34 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=46019 Nần nghệ 1

Cây Nần nghệ (Dioscorea collettii Hook.f.)

1. Mô tả

  • Dây leo quấn, sống nhiều năm, dài 5-10 m.
  • đơn, mọc cách; phiến lá hình tim, cỡ 6-10 × 5-9 cm; có 7 gân, trong đó 3 gân gốc vươn tới chóp lá; ở gốc cuống lá có 2 gai nhỏ cong (lá kèm biến dạng).
  • Cụm hoa đực là những xim dài 10-30 cm, mỗi xim có 3-4 hoa. Hoa đực không cuống, bao hoa gồm 6 mảnh dính nhau ở gốc, với 6 thùy hình tam giác ở đỉnh. Nhị hữu thụ 3 có chỉ nhị chia đôi thành hình nạng và mỗi nhánh mang 1 bao phấn; nhị lép 3, hình dùi.
  • Cụm hoa cái hình chùm, dài 15-30 cm. Hoa cái có 2 lá bắc, bao hoa 6 thùy, không có nhị lép; nùm nhụy 3 thùy.
  • Quả nang quặt lại, có 3 cánh, 3 ô, mỗi ô chứa 2 hạt. Hạt có cánh tròn.
  • Thân rễ màu vàng, phân nhiều nhánh ngắn tạo thành một khối có đường kính đạt tới 20 cm. Vỏ ngoài có màu nâu vàng hoặc xám, xù xì, lồi lõm, mang rất nhiều rễ con nhỏ.
  • Thân rễ nằm dưới đất, đến tháng 2-3 mới mọc thân khi sinh, tháng 5-6 ra hoa và kết quả, cây tàn lụi vào tháng 11-12.

2. Phân bố, sinh thái

  • Trong nước: Cây phân bố ở Sơn La (Mộc Châu).
  • Thế giới: Cây có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Myanmar.

Cây Nần nghệ thường mọc rải rác ven rừng, trong rừng tre nứa, cây bụi, ven suối, sườn núi. Phân bố rất hẹp, mọc rất rải rác, nơi sống đang bị xâm hại do tàn phá rừng.
Vì vậy, hiện nay Nần nghệ đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (R) [1].

3. Bộ phận dùng

Thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây.

4. Thành phần hóa học

Thành phần quan trọng nhất là Diosgenin.

  • Theo Dược điển Việt Nam V, dược liệu này chứa hơn 2,5 % diosgenin (C27H42O3) tính theo dược liệu khô kiệt [2].
  • Trong thời kỳ hoa nở, hàm lượng diosgenin lên cao nhất (4,4%). Các nhà khoa học đã chiết được diosgenin tinh khiết từ Nần nghệ với hiệu suất chiết là 2% [3].

5. Tác dụng dược lý

Diosgenin là một hợp chất phytochemical (hợp chất có nguồn gốc từ thực vật), được tìm thấy trong nhiều thực phẩm, gia vị và đang dần trở nên phổ biến hơn các thuốc tổng hợp thông thường, chủ yếu là do chúng hoạt động thông qua nhiều mục tiêu phân tử phối hợp để ngăn ngừa hoặc điều trị hiệu quả các bệnh mãn tính. Các hợp chất phytochemical cũng an toàn (không có hoặc có rất ít tác dụng độc hại) và có sinh khả dụng tốt hơn.

Saponin thực phẩm đã được sử dụng trong y học truyền thống để chống lại một loạt các bệnh bao gồm một số bệnh ung thư. Diosgenin, một saponin steroid tự nhiên được tìm thấy rất nhiều trong các cây thuộc loài Dioscorea sp. Diosgenin là tiền chất của nhiều thuốc steroid tổng hợp khác nhau được sử dụng rộng rãi trong ngành dược phẩm.

Trong hai thập kỷ qua, một loạt các nghiên cứu tiền lâm sàng và cơ học đã được tiến hành độc lập để hiểu vai trò có lợi của diosgenin đối với các bệnh chuyển hóa (tăng cholesterol máu, rối loạn lipid máu, tiểu đường và béo phì), viêm và ung thư.

  • Trong các mô hình thử nghiệm của bệnh nhân béo phì, diosgenin làm giảm triglyceride huyết tương và gan và cải thiện cân bằng glucose nội môi hợp lý bằng cách thúc đẩy biệt hóa tế bào mỡ và ức chế viêm trong các mô mỡ.
  • Một số thí nghiệm đã được thực hiện để hiểu được hiệu quả tiền lâm sàng của diosgenin như là một tác nhân hóa trị liệu / điều trị chống lại ung thư trong một số cơ quan nội tạng.

6. Tính vị

Củ nần nghệ có vị đắng, chát, mùi thơm nồng.

7. Công dụng

Nần nghệ là dược liệu nằm trong công trình nghiên cứu về nhiều cây thuốc quý đạt giải thưởng Hồ Chí Minh với những nghiên cứu chuyên sâu trong hơn 40 năm qua, đặc biệt là những nghiên cứu của TS, Lương y Nguyễn Hoàng (Nguyên giảng viên trường ĐH Dược Hà Nội) chứng minh công dụng vượt trội:

  • Nần nghệ có tác dụng hạ cholesterol rõ ràng, rối loạn lipid máu mà không có bất cứ tác dụng phụ nào
  • Điều đáng lưu ý là Nần nghệ hạ cholesterol, đặc biệt hạ rất mạnh LDL (low density lipoprotein: lipoprotein tỷ trọng thấp – còn gọi là các “cholesterol xấu” bởi vì chất này làm tăng các mảng bám mỡ trong động mạch, gây các biến chứng xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim…).
  • Diosgenin có thể ảnh hưởng đến một số bệnh chuyển hóa do có ảnh hưởng trực tiếp đến một số mục tiêu phân tử tham gia vào quá trình chuyển hóa enzyme cũng như quá trình dẫn truyền tín hiệu ở gan. Vì vậy, những điều này giúp diosgenin có thể điều hòa chức năng gan một cách hợp lý và có thể hỗ trợ trong việc kiểm soát điều trị các bệnh về gan đặc biệt là bệnh gan nhiễm mỡ.
  • Thêm nữa, Nần nghệ lại có xu hướng tăng HDL (high density lipoprotein: lipoprotein tỷ trọng cao – còn gọi là các “cholesterol tốt”, giúp chuyển cholesterol dư thừa từ thành mạch máu về gan để chuyển hóa, giảm nguy cơ tai biến, nhồi máu cơ tim)

8. Bài thuốc về cây nghệ

Trị mỡ máu:

  • Lấy khoảng 15g nần vàng khô hoặc 40g củ tươi, rửa sạch, thái lát mỏng
  • Sắc với 500ml nước đến khi cạn còn khoảng 300ml nước
  • Chia nhỏ uống làm 2 lần trong ngày, sau bữa ăn khoảng 30 phút

Hoặc:

  • Dùng một lượng vừa đủ pha với nước ấm, uống sau bữa ăn, tương tự như với nước sắc uống.

9. Công trình nghiên cứu

Một số công trình nghiên cứu về thảo dược quý Nần nghệ đã được công bố như (Tiếng việt ):

1. Diosgenin trong Nần nghệ, Dược học, số 2/1983
2. Nghiên cứu một số loài Dioscorea ở Việt Nam nhằm tìm nguồn nguyên liệu diosgenin. Luận án Phó tiến sĩ dược học, Liên xô 1985
3. Động thái tích lũy diosgenin trong Dioscorea collettii Hook.f, Farmasia (LX), số 1/1986.
4. Điều tra trữ lượng cây Nần nghệ (Dioscorea collettii Hook.f). Công trình nghiên cứu khoa học y dược, 1986.
5. Diosgenin trong một số loài Dioscorea ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu khoa học y dược, 1986.
6. Đỗ Thị Bích Thủy (1987), Bước đầu nghiên cứu chế phẩm từ Nần nghệ, chuyên đề tốt nghiệp Dược sĩ đại học
7. Nguyễn Minh Thư (1989), Nghiên cứu thành phần hóa học của chế phẩm từ Nần nghệ (Dioscorea collettii Hook. f.), chuyên đề tốt nghiệp Dược sĩ đại học
8. Một số đặc điểm của dược liệu Nần nghệ và chế phẩm Diosgin. Tóm tắt các công trình nghiên cứu khoa học đại học Dược Hà Nội 1986-1990.
9. Khảo sát độc tính của Nần nghệ. Dược học, số 2/1991
10. Khảo sát một số tác dụng dược lý của Nần nghệ. Dược học, số 5/1991
11. Nhận định bước đầu tác dụng hạ các thành phần lipoprotein máu cao của Diosgin. Tạp chí y học thực hành, số 3/1992.
12. Trần Thị Tuyết (1992), Tiếp tục nghiên cứu chế phẩm Diosgin từ Nần nghệ (Dioscorea collettii Hook. f. Dioscoreaceae, Công trình tốt nghiệp Dược sĩ
13. Thuốc Diosgin từ Nần nghệ Dioscorea collettii Hook.f, Đề tài nghiên cứu cấp trường, 1995
14. Nguyễn Thị Lệ Hà (2016), “Nghiên cứu hiệu quả điều trị rối loạn Lipid máu của Viên hoàn cứng Hamomax (chiết xuất từ Nần nghệ)“, Luận văn Bác sỹ chuyên khoa Cấp II – Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương.
Tiếng nước ngoài
15. Yang Minghe (1983), Steriidal sapogenins in Dioscorea collettii, Planta Medica, V. 49, p. 36-42
16. Игуен Хоанг (1985), Изучение некотоых представителей рода Dioscorea L. Флоры вьетнама как источников диосгенина, Диссертация на соискание ученой степени кандидата фармацевтических наук, c. 128-129

Tài liệu tham khảo về cây nần nghệ:

1. Sách đỏ Việt Nam, tập 2, 1996, trang 391-392
2. Dược điển Việt Nam V, tập 2.
3. Hoàng Kim Huyền và cộng sự, Khảo sát sơ bộ một số tác dụng dược lý của Nần nghệ.
4. Trương Thị Mai Vân, Hiệu quả của viên hoàn Hamomax điều trị rối loạn lipid máu thể tỳ hư đàm thấp.
5. Ryan E. Temel, Diosgenin stimulation of fecal cholesterol excretion in mice is not NPC1L1 dependent.
6. In Suk SON, Antioxidative and Hypolipidemic Effects of Diosgenin, a Steroidal Saponin of Yam (Dioscorea spp.), on High-Cholesterol Fed Rats.
7. M.N.Cayen, D.Dvornik, Combined effects of clofibrate and diosgenin on cholesterol metabolism in rats.
8. Jayadev Raju và Chinthalapally V. Rao, Diosgenin, a Steroid Saponin Constituent of Yams and Fenugreek: Emerging Evidence for Applications in Medicine.

Một số sản phẩm có thành phần Nần nghệ trên thị trường hiện nay

Hamogan Tuệ Linh

♦ Sản phẩm Hamogan là sự kết hợp giữa Phospholipid Đậu nành với các thảo dược quý Nần nghệ, Cà gai leo, Lá sen.

♦ Giúp giảm tích tụ mỡ trong gan vừa bảo vệ tế bào gan vừa thúc đẩy nhanh quá trình tái sinh tế bào gan bị tổn thương, ức chế quá trình xơ gan, giúp giải độc gan tăng cường chức năng gan.

♦ Sản phẩm sử dụng cho người bị mỡ máu, gan nhiễm mỡ, viêm gan, người bị xơ gan, uống nhiều bia rượu.

Nần nghệ 2

Sản phẩm HAMOGAN Tuệ Linh – giúp giảm tích tụ mỡ trong gan, bảo vệ tế bào gan 

 

Nần nghệ Tuệ Linh

Nần nghệ Tuệ Linh là sự kết hợp những dưỡng chất tinh túy từ Nần nghệ, Giảo cổ lam và Hòe hoa.

Công dụng:

✔ Hỗ trợ giảm mỡ máu, mỡ gan nhanh chóng, giúp tăng sức bền thành mạch
✔ Hỗ trợ giảm và ổn định huyết áp
✔ Hỗ trợ người có nguy cơ tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch.

Nần nghệ 3

Nần nghệ Tuệ Linh – Hỗ trợ giảm mỡ máu, giảm huyết áp

Trên đây là một số thông tin về hình ảnh, liều lượng công dụng của cây Nần nghệ. Nếu cần tư vấn và tìm hiểu thêm về cây Nần nghệ và các loại cây dược liệu khác bạn có thể liên hệ qua số tổng đài tư vấn 1800.1190 (miễn phí tư vấn) hoặc đặt câu hỏi của bạn ở mục ý kiến ở cuối bài viết, Tra cứu dược liệu sẽ giải đáp những thắc giúp bạn có thêm những thông tin đáng tin cậy.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/cay-nan-nghe.html/feed 0
Thục quỳ https://tracuuduoclieu.vn/thuc-quy.html https://tracuuduoclieu.vn/thuc-quy.html#respond Thu, 16 May 2019 03:13:38 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=35801

Mô tả

Cây thảo, sống hai năm, cao 2 – 3m. Thân mập, mọc thẳng đứng, có lông nhiều hav ít. Lá mọc so le, hình tim, đường kính 7,5 – 12,5cm, chia 5 – 7 thùy, đầu tù hơi nhọn, mép có răng cưa; cuống lá dài.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành chùm; lá bắc rộng, thường xẻ đôi; hoa to, đường kính 6 – 7cm, có khi 10cm, màu tía, hồng hoặc trắng, có cuống ngắn; đài 5 răng nhọn, mọc cong xuống, dài phụ nhỏ hơn; tràng 5 cánh rộng, mọc xoè ra, đầu cánh bằng hoặc khuyết; nhị nhiều đính trên một cột ngắn, bao phấn màu vàng nhạt; bầu nhiều ô, mỗi ô chứa một noãn.

Phân bố, sinh thái

Chi Althaea L. có khoảng 15 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, chỉ có 1 loài là cây thục quỳ.

Thục quỳ có nguồn gốc từ Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản. Do có hoa đẹp, nên cây thường được trổng làm cảnh và được du nhập đi khắp nơi. Cây được nhập lần đầu tiên vào Việt Nam ở Đà Lạt, sau chuyển dần ra miền Bắc và hiện đã có mặt ở nhiều vùng đô thị, nhất là một số thị trấn, thị xã thuộc vùng núi như Lào Cai, Tam Đảo, Hà Nội, Hà Giang, Tuyên Quang. Thục quỳ là cây ưa ẩm và ưa sáng, được trồng ở Việt Nam vào mùa xuân – hè. Cây sinh trưởng phát triển mạnh vào mùa xuân. Thục quỳ có rất nhiều hoa.

Cây trồng ở Hà Nội cũng có tỷ lệ đậu quả khá cao. Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm vào khoảng 18°C trở lên. Đến giữa mùa hè, khi nhiệt độ trên 30°C, cây kết thúc thời kỳ quả già và tàn lụi.

Bộ phận dùng

Hoa, hạt, chồi và rễ.

Thành phần hóa học

  • Hoa thục quỳ chứa myrtilin – a, delphinidin – 3 – glucosid, dibenzoylcarbinol, dihydrokaempferol.
  • Hoa còn chứa 5% polysaccharid (trọng lượng phân tử 40.000). Thành phần chính là monosaccharid trong polysaccharid gồm rhamnose và arabinose. Các chất pectin từ bã chiếm 11%. (CA 124: 220.542 u).
  • Rễ chứa 7,78% đường, 6,86% pentosan, 10,59% methylpentosan, 20,04% acid uronic (Trung dược từ hải III, 1997)
  • Hạt chứa 11,9% dầu khô (The Wealth of India I, 1948).
  • Thục quỳ còn có althein, pelargonidĩn 7 – glucosid, petunidin 3 – rhamnosid, seranin (= cyanidin 3, 7 – diglucosid) (The Handbook of natural flavonoids, vol. 2), herbacin, kaempferol, kaempferol 3 – glucosid, quercetin, quercetin 3 – glucosid, cyanidin – 3 – glucosid, cyanidin 3 – rutinosid (Compendium of medicinal plants vol. 1 (1960 – 1969), 1999).

Tác dụng dược lý

  • Tác dụng trên virus: Nước sắc cành lá non cây thục quỳ có tác dụng ức chế vi rút bệnh mụn rộp (herpes), bệnh thủy đậu.
  • Tác dụng chống viêm cấp: Gây phù thực nghiệm bàn chân chuột bằng caragenin hoặc dextran, cao cồn hoa thục quỳ với liều tính ra dược liệu khô là 10g/kg có tác dụng ức chế sự rỉ dịch tế bào, làm cho phù giảm đi, đồng thời làm giảm sự giải phóng PGE2 là một chất gây viêm.
  • Tác dụng giảm đau: Cao chiết cồn hoa thục quỳ cho uống với liều 5g và 10g/kg tính theo dược liệu khô có tác dụng giảm phản ứng đau biểu hiện bằng vặn xoắn mình chuột nhắt trắng do tiêm phúc mạc acid acetic. Thuốc cũng có tác dụng giảm đau trong mô hình nhúng đuôi chuột cống trắng vào nước nóng, mà biểu hiện đau là chuột quẫy đuôi.
  • Tác dụng trên tim mạch:
    • Dịch chiết bằng cồn hoa thục quỳ thử trên tim chuột lang cô lập có tác dụng làm tăng lưu lượng mạch vành.
    • Dịch chiết hoa thục quỳ có tác dụng làm giãn mạch rõ rệt trên tiêu bản chi sau chuột cống trắng.
    • Thử trên mèo gây mê, cao hoa thục quỳ với liều 0,14 và 0,28 g/kg tiêm tĩnh mạch có tác dụng hạ huyết áp trong một thời gian ngắn.
  • ADP (adenosin diphosphat) có tác dụng làm tăng sự kết tụ tiểu cầu máu thỏ. Dịch chiết hoa thục quỳ ức chế sự kết tụ tiểu cầu máu thỏ do ADP gây nên.
  • Althein có tác dụng giống như estron, nên thục quỳ có ảnh hưởng đến hệ sinh dục nữ.

Tính vị, công năng

Thục quỳ có vị ngọt, mặn, tính hàn, có tác dụng lợi tiểu, tiêu thũng, nhuận táo, giải độc, hoạt huyết, điều kinh, thanh nhiệt, chỉ khái.

Công dụng

Thục quỳ được dùng chữa ho, viêm họng, viêm đuờng hô hấp, các bệnh do virus như mụn rộp, giời leo, sởi, thủy đậu, khó tiêu, đại tiểu tiện không thông, thủy thũng, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, khí hư, thấp khớp.

Liều dùng: Cành lá cây con 12 – 36g khô, nếu tươi dùng lấy lượng gấp đôi, sắc uống; hạt 3 – 6g, hoa 6 – 9g sắc hoặc nghiền thành bột uống. Rễ để nhuận tràng với liều 12g, và tẩy là 60g, sắc uống.

Bài thuốc có thục quỳ

  • Chữa thủy đậu, giời leo, mụn rộp: Cành lá thục quỳ 12g khô (tươi là 30g), cây tươi diếp cá 50g, sắc uống hàng ngày thay trà. Kết hợp lấy lá thục quỳ và lá diếp cá tươi, lượng bằng nhau rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, thoa khắp các vùng bi thương tổn. Ngày 4-6 lần.
  • Chữa ho, viêm họng, câm cúm, sởi: Hoa và lá thục quỳ, diếp cá, kim ngân hoa, mỗi vị 12g (hoặc 30g tươi), thêm 3 lát gừng, sắc uống hàng ngày. Dùng 3-5 ngày.
  • Chữa nội ung (u ruột), chảy máu, bụng lạnh đau đi ngoài ra máu: Rễ thục quỳ, bạch chỉ, mỗi vị 30g; bạch khô phàn (phèn phi), bạch thược, mỗi vị 15g. Sấy khô, tán mịn trộn đều làm viên đường kính 1cm. Uống lúc đói, mỗi lần 20 viên với nước cơm ngày 3 lần cho đến khi không đi ra máu nữa.

Nguồn tham khảoCây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/thuc-quy.html/feed 0
Rùa núi https://tracuuduoclieu.vn/rua-nui.html https://tracuuduoclieu.vn/rua-nui.html#comments Tue, 09 Apr 2019 07:37:48 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=31165

Mô tả

Loài rùa nhỏ. Thân ngắn bọc trong một vỏ đỏ nhiều phiến sừng hay vảy cứng ghép lại, gồm tấm giáp lưng dày và lồi gọi là mu hay mai và tấm giáp bụng phẳng là yếm. Đầu tròn, trơn nhẵn, cổ dài linh động, có thể rụt hẳn vào trong mai. Bốn chân to, hình trụ, có móng, chân trước ngắn hơn chân sau. Đuôi ngắn. Mai màu vàng nâu, đen sẫm hơn ở giữa mỗi phiến sừng. Rùa đực thường nhỏ hơn rùa cái.

Loài rùa nước (thuỷ quy – Clemmys mutica Cantor) cũng được sử dụng.

Phân bố, sinh thái

Rùa núi phân bố ở các nước Châu Á. Ở Việt Nam, rùa núi sống hoang ở vùng núi, chỗ ẩm thấp trong rừng, bờ sông rạch. Ở miền Nam, về mùa khô, rùa núi ẩn nấp trong bụi và chỉ hoạt động kiếm ăn vào mùa mưa. Thức ăn của rùa núi là động vật không xương sống, cá, sâu bọ, cỏ và quả rừng. Đẻ trứng trên cạn, vùi vào cát. Rùa núi được thu bắt quanh năm nhưng nhiều nhất vào tháng 8-12.

Bộ phận dùng

Yếm rùa có tên thuốc trong y học cổ truyền là quy bản hay quy giáp. Máu (quy huyết) và tinh trùng của rùa cũng được sử dụng.

Cách thu hoạch và chế biển yểm rùa núi

Rùa bắt về, đập chết, bóc lấy yếm, cạo hết thịt, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, được huyết bàn. Nếu cho rùa vào nước sôi để chết rồi mới bóc yếm thì được thang bản. Dược liệu là dạng phiến do nhiều mảnh nhỏ ghép lại, hình bầu dục, mép hơi cong lên, một đầu thuôn hẹp có khuyết lõm vào. Mặt ngoài có màu nâu xám sẫm, mặt trong màu vàng nhạt, chất cứng chắc, dễ gãy ở những đường nối ghép. Huyết bản trơn bóng, không có vết da bị lóc là loại tốt. Thang bản màu sẫm hơn, có vết da bị lóc là loại vừa.

Khi dùng, đem yếm đập vỡ thành những mảnh nhỏ, rổi tẩm giấm, nướng vàng (hoặc rang với cát nóng cho vàng rồi tẩm giấm), tán bột.

Yếm rùa được chế biến thành cao, dùng tốt hơn, theo cách làm sau: Ngâm yếm rùa vào nước, đun sôi trong vài giờ (có nơi ngâm vào nước phèn 5 % hoặc nưốc tro bếp). Lấy ra, cạo sạch gân, thịt còn sót lại. Tẩy bằng rượu. Đập thành mảnh nhỏ, nấu với nước 3 lần, mỗi lần một ngày, một đêm. Lọc bỏ bã. Nước lọc đem cô thành cao đặc rồi đổ khuôn.

Có khi người ta cốn nấu yếm rùa với gạc hươu nai để được quy lộc nhị tiên cao hoặc với mai ba ba để được nhị giáp cao. Có thể còn phối hợp với nhiều vị thuốc có nguồn gốc thực vật.

Thành phần hoá học

Trong yếm rùa có chất béo, chất keo, muối Ca. Mai rùa có nhiều acid amin.

Tính vị, công năng

Theo các tài liệu cổ, yếm rùa có vị ngọt, mặn, tính bình, vào 4 kinh thận, tâm, can và tỳ, có tác dụng bồi dưỡng cơ thể, ích khí, mạnh gân xương, giảm đau. Máu rùa (tiết) có vị mặn, tính hàn, không độc, có tác dụng bổ, tăng sức.

Công dụng

Từ ngàn xưa, con người đã lấy rùa làm biểu tượng cho tuổi thọ, trí tuệ và sự may mắn.

Yếm rùa

Chữa suy nhược, lao lực quá độ, mỏi mệt, nóng trong, sốt rét, ho lâu ngày, thận kém, chân tay đau nhức, trẻ em yếu xương, chậm lớn, chậm biết đi. Ngày uống 5 – 10g chia làm 2 – 3 lần dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc. Đối với cao quy bản, khi dùng mới cắt thành những miếng nhỏ, ăn với cháo hoặc mật ong, mỗi ngày 10 – 20 g chia làm 3 lần. Dùng liền một tháng. Quy lộc nhị tiên cao lại được ngâm rượu và mật ong, uống mỗi ngày vài chén là thuốc đại bổ tinh tuỷ, ích khí dưỡng thần. Nhị giáp cao hoà loãng trong nước cơm hâm nóng với liều 6 – 10g trị thiếu máu, háo khát. Người có máu hàn, hay bị tiêu lỏng, không nên dùng yếm rùa.

Tinh trùng rùa

Chữa điếc tai. Cách lấy tinh như sau : Đè nặng lên mu con rùa đực, đặt một cái gương trước mặt. Rùa đực tưởng trước mặt là rùa cái nên xuất tinh. Hứng lấy, nhỏ vào tai, ngày vài lần.

Máu rùa

Chữa khó thở trong bệnh tim mạch. Máu rùa pha vói rượu theo tỷ lệ 2 phần máu và một phần rượu. Uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.

Theo tài liệu nước ngoài, máu rùa là một vị thuốc đại bổ, làm tăng nhanh sức lực và sự dẻo dai của cơ thể một cách phi thường. Một số chuyên gia về chất kích thích thấy các nữ vận động viên Trung Quốc thường xuyên uống tiết rùa tươi, nên đã giành được nhiều thành tích vượt bậc trong các cuộc thi thể thao thế giới. Ngoài ra, ở thành phố Bénares (Ấn Độ), người ta có sáng kiến dùng rùa để làm sạch môi trường, giải quyết tình trạng ô nhiễm nặng nước sông Hằng mà hàng năm vẫn gây ra nhiều nạn dịch.

Bài thuốc có rùa núi

Dùng ở Việt Nam

Chữa mụn rò, chảy nước và mủ, lòi dom:

  • Mai rùa, mai ba ba, phèn chua (liều lượng bằng nhau) đốt tồn tính, tán nhỏ, rây mịn, rắc vào chỗ đau (Nam dược thần hiệu).
  • Chữa thận hư, di tinh, băng huyết, khí hư, ho, lưng gối đau mỏi, kiết lỵ, sốt rét lâu ngày:
  • Yếm rùa (20 g), rễ cây trung quân (20g), vỏ cây đỗ trọng nam (30 g), rễ nhàu (20g), sàm Bố Chính (20g). Tất cả thái nhỏ, sao vàng, ngâm rượu uống. Mỗi ngày 1-2 chén nhỏ.

Chữa ho lâu ngày:

Yếm rùa và đảng sâm (lượng bằng nhau) tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 – 20g.

Chữa di mộng tinh:

Cao quy bản (lOg), thục địa (16g), hoài sơn (12g), phá cố chỉ (8g, sao với rượu), thỏ ty tử ( 8g, sao), rau má (8g), vỏ rễ cây đơn đỏ (6 g, sao), khiếm thực (6g, sao). Cao quy bản hơ nóng cho chảy; thục địa giã nhuyễn. Các dược liệu khác phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn đều với cao quy bản và thục địa, rồi cho mật ong vừa đủ để làm viên 2 g. Mỗi ngày uống 10 viên. Chia làm 2 lần.

Dùng ở Trung Quốc

Chữa mất ngủ:

  • Thịt rùa (250g), táo tàu (10 quả), bách hợp (30 g). Thái nhỏ, ninh nhừ. Ăn cả nước lẫn cái.
  • Chữa suy nhược ở trẻ em, thóp chậm cứng lại:
  • Mai rùa (15g), đảng sâm (15g), cốt toái bổ (15g). Sắc lấy nước uống trong ngày.

Thuốc giảm mỡ, cholesterol trong máu, phòng u bướu:

Thịt rùa (300 g), nấm linh chi (30 g), táo tầu (10 quả). Tất cả ninh nhừ thêm gia vị, ăn cả cái lẫn nước.

Thuốc bổ, hạ huyết áp :

Thịt rùa (200g), ngưu tất (12g). Hai vị thái nhỏ, hầm nhừ, thêm gừng (5g), hành (10g), muối (5g). Ăn trong ngày.

Ghi chú:

Rùa núi là đối tượng bị săn bắt nhiều nên số lượng trong tự nhiên còn rất ít. Chỉ trong một tháng cuối năm 1995, hơn 3000 con rùa núi đã được thu hồi để trả lại thiên nhiên. Nó đã được ghi vào Sách Đỏ quốc gia để bảo vệ.

Nguồn : Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam.

 

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/rua-nui.html/feed 2
Lêkima https://tracuuduoclieu.vn/lekima.html https://tracuuduoclieu.vn/lekima.html#respond Mon, 02 Jul 2018 18:26:37 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/lekima/ Mô tả cây
  • Cây nhỏ, cành to. Lá mọc ở đầu cành, hình hơi bầu dục, dài 10-25cm, nhẵn.
  • Hoa nhỏ, cuống nhỏ và dài, mọc đơn độc ở kẽ các lá.
  • Quả hình trứng, dài 8-15cm, màu nâu hung, vỏ sần sùi, chứa một hạch hình trứng nhẵn, màu nâu, phần rốn hơi xù xì.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây Lê ki ma vốn nguồn gốc những nước nhiệt đới châu Mỹ, hiện được di thực và trồng ở nhiều nước nhiệt đới. Ở nước ta được trồng nhiều nhất ở miền Nam lấy quả ăn.

Thành phần hóa học

Thịt quả chứa các chất protid, glucid, caroten, vitamin C.

Công dụng và liều dùng

  • Hiện cây lekima được trồng chủ yếu để lấy quả ăn tươi hoặc làm mứt. Hạt rang lên được pha với bột hạt cây cacao để chế biến sôcôla
  • Do những khám phá mới về tính năng trị liệu mà lê ki ma trở nên một loại trái rất được ưa chuộng. Có hàm lượng niacin (vitamin B3), beta-caroiten, sắt và chất xơ, là những thành phần chống ô xy hóa cực mạnh cho da và cần thiết cho hoạt động của cơ thể. Lê ki ma còn giúp tăng tỷ lệ hồng cầu trong máu, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, chống trầm cảm, giảm cholesterol và triglecirid trong máu, ngăn ngừa các bệnh tim mạch và béo phì, hạn chế các cơn nhồi máu cơ tim, tăng hiệu quả của hệ miễn nhiễm và tăng lực rất tốt.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/lekima.html/feed 0