Tra cứu dược liệu https://tracuuduoclieu.vn Thu, 27 Mar 2025 03:06:34 +0700 vi hourly 1 Cóc kèn leo https://tracuuduoclieu.vn/coc-ken-leo.html https://tracuuduoclieu.vn/coc-ken-leo.html#respond Wed, 14 Jul 2021 16:57:42 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=56038 Mô tả
  • Dây leo rất to, dài đến 30m. Thân cành có lông màu xám nhạt, sau nhẵn, có những bì không và rãnh dọc.
  • Lá kép mọc so le, lá chét 9 – 19, cứng và dai, hình bầu dục hoặc thuôn, dài 25 cm, rộng 1,5 – 2 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mặt trên nhẫn bóng, mặt dưới có lông rải rác màu hơi trắng, gần lá chằng chịt thành mạng lưới rõ.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm dài 8 – 40 cm, có lông màu hung; hoa 5 – 12, màu trắng hoặc hồng nhạt; lá bắc con xẻ đôi dưới đài hoa; đài hình phễu, mặt ngoài có lông, lá đài hơi khía răng, tràng có cánh cờ thuôn đảo, cánh bên có lông, có tại rõ, cánh thìa hình liềm, có tại; nhị 10, ẩn trong bao hoa; bầu có lông, 6 – 10 noãn.
  • Quả dài 2,5 – 7 cm, rộng 1 – 1,5 cm, thuôn ở hai đầu, thắt lại giữa các hạt, có lông mềm, có cánh; hạt 1 – 4 hình thận, dài 8 mm, rộng 6 mm.

Phân bố sinh thái

Chi Derris Lour, trên thế giới có khoảng 70 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á.

Ở Việt Nam, chi này có 13 loài, loài cóc kèn leo mới chỉ thấy phân bố ở các tỉnh phía nam, như Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, ngoại thành Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang (Phan Ke Lọc và J. E. Vidal, 2000) và một địa phương khác ở đồng bằng sông Cửu Long. Trên thế giới, cóc kèn leo được ghi nhận phân bố Ấn Độ, Xri Lanca, Bănglađét, Pakistan.

Cóc kèn leo là cây ưa sáng, thường leo trùm lên một số cây bụi, cây gỗ nhỏ ở các bờ kênh rạch (vùng đồng bằng sông Cửu Long), bờ suối ở cửa rừng hoặc ở ven rừng kín thường xanh. Cây phân cành nhiều và chỉ có những cành tiếp xúc nhiều với ánh sáng mới ra hoa quả nhiều và hàng năm. Cóc kèn leo tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt.

Bộ phận sử dụng

Thân hoặc rễ.

Thành phần hoá học

Trong loài cóc kèn leo có chứa 6 flavon và 6 diprennilisoflavon: dirissoflavon A – F (Phạm Hoàng Hộ, 2006 Cây có vị thuốc ở Việt Nam, tr.218).

Củ cóc kèn leo chứa scandenin (C26H20O6), nallanin (C26H26O5), chandanin (C24H30O5), acid lonchocarpic và acid robustic. Hai acid này chỉ tìm thấy trong củ loài cóc kèn leo ở châu Mỹ, không tìm thấy trong loài mọc ở Ấn Độ.

Tác dụng dược lý

Tác dụng chống viêm:

Cao nước cóc kèn làm giảm có ý nghĩa sự giải phóng myeloperoxyd, làm giảm sự sinh sản các eicosanoid, mà nhiều chất là những chất trung gian gây viêm. Cao cóc kèn cũng có tác dụng ức chế mạnh sự sinh sản ra leucotrien B4 (LT B4).

Tác dụng chống oxy hoá và quét dọn gốc tự do:

Cao cóc kèn leo có tác dụng chống oxy hoá (Laupattarakasen et al., 2003). Cũng đã xác định được genistein và các hợp chất isoprenyl hoá trong các kèn là những chất chống oxy hoá mạnh (Laupattarakasen et al., 2004). Các isoflavon prenyl hoá trong các kèn như scandenon, scandinon, scandenin A scandenin B. isoscandenon còn có tác dụng quét dọn gốc tự do (Rao, Srinivas et al., 2007).

Tác dụng trên hệ miễn dịch:

Đã nghiên cứu tác dụng của cao ethanol chiết từ cóc kèn leo trên chức năng miễn dịch qua các thông số: sự tăng sinh lympho bào; hoạt động của tế bào diệt tự nhiên (NK: natural killer) và sự tiết interleukin – 2 (IL – 2) và IL – 4 in vitro.

Kết luận: Cao cóc kèn có tác dụng kích thích miễn dịch in vitro trên bạch cầu đơn nhân máu ngoại vi ở người không bị suy giảm miễn dịch hoặc người bị suy giảm miễn dịch (Sriwanthana et al., 2001).

Tính vị, công năng

Chưa có tài liệu để cập vì cây có độc.

Công dụng

Cóc kèn có độc nên nhân dân ta chỉ dùng ngoài.

Rễ vầ vỏ thân được dùng để duốc cá. Rễ và thân cóc kèn phơi khô, nghiền thành bột để diệt côn trùng.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/coc-ken-leo.html/feed 0
Trạch quạch https://tracuuduoclieu.vn/trach-quach.html https://tracuuduoclieu.vn/trach-quach.html#respond Mon, 25 Mar 2019 09:27:44 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=30102

Mô tả

  1. Cây to, cao 15 – 18m. Cành hình trụ nhẵn. Lá kép hai lần lông chim lẻ, mọc so le, dài 30 – 40cm hay hơn, cuống chung mập, lá chét không bằng nhau, hình bầu dục hoặc hình trái xoan ngược, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông áp sát.
  2. Cụm hoa mọc ỏ kẽ lá thành bông, lá bắc nhỏ rụng sớm; hoa nhỏ rất nhiều, màu vàng, xếp dày đặc thành vòng; đài dạng đấu, có răng tù; tràng có cánh hình dải; nhị 10, bao phấn hình bầu dục; bầu nhần có nhiều noãn.
  3. Quả hình lưỡi liềm, cong xoắn; hạt hình mắt chim hay hơi hình thận, màu đỏ bóng. Mùa hoa quả: tháng 6-9.

Phân bố, sinh thái

Chi Adenatithera L. có 2 loài ở Việt Nam thường gọi là trạch quạch và ràng ràng. Trạch quạch là cây của vùng nhiệt đới châu Á, phân bố rải rác ở Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, trạch quạch có ở các tỉnh miền núi có độ cao dưới 600m, đôi khi thấy ở vùng đổi trung du; thường gặp nhiều hơn ở các tỉnh miền Trung và đảo lớn.

Cây ưa sáng, có thể chịu được khô hạn, thường mọc ở rừng thưa, các đồi cây bụi ở ven biển hoặc đảo. Cây ra hoa nhiều vào cuối mùa khô, quả chín tự mở để hạt rơi vãi xung quanh gốc. Hiện chưa quan sát được cây con mọc từ hạt; Cây tái sinh khoẻ sau khi bị chặt.

Bộ phận dùng

Hạt thu hái ở quả chín. Còn dùng lá và vỏ cây phơi khô.

Thành phần hóa học

  • Hạt trạch quách chứ 28% dầu, HCN glucosid, acid lignoceric. Lá chứa alcaloid (Võ Văn Chi – Từ điển cây thuốc)
  • Hạt chứa 14% dầu béo, acid lignoceric với hàm lượng 25% trong dầu hoặc 2,24% trọng lượng hạt
  • Hạt trạch quạch còn chứa lipid mà acid béo chủ yếu là linoleic bên cạnh acid lignoceric và acid cerotic, các men ức chế trypsin gồm một chuỗi đơn polypeptid có 182 acidamin gồm 4 nửa đơn vị cystein và 1 chuỗi acid pyroglutamic.
  • Các men ức chế cystein proteinase là một protein có trọng lượng phân tử 29KDa và có các thành phần acid amin tương tự như papain trong hạt đu đủ.

Tác dụng dược lý

Một chất chưa xác định được cấu trúc từ hạt trạch quạch có phân tử lượng 24000, có tác dụng ức chế men pepsin của tuyến tụy. Rễ trạch quạch có tác dụng gây nôn và tiêu chảy.

Tính vị, công năng

Hạt trạch quạch có tính hơi hàn, hơi độc, có tác dụng khử độc, tiêu viêm. Rễ gây thượng thổ, hạ tả.

Công dụng

Lá trạch quạch được dùng chữa thấp khớp mạn tính, thống phong, đái ra máu. Vỏ cây sắc uống chữa thấp khớp, lỵ. Gỗ sắc uống để tăng lực. Hạt được dùng làm thuốc đắp làm vỡ mủ chữa nhọt, áp xe, viêm vết thương nhiễm khuẩn, đau nửa đầu, thấp khớp. Để chữa rắn cắn, lấy 7 – 10 hạt trạch quạch, đập vỡ vỏ, lấy nhân, giã nát, thêm nước, gạn uống, bã đắp lên vết cắn.

Chú ý: Toàn cây trạch quạch có chất độc, nhất là hạt, vì vậy khi dùng phải rất thận trọng. Nếu chưa có kinh nghiệm không nên dùng uống.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/trach-quach.html/feed 0
Trẩu (Dầu sơn) https://tracuuduoclieu.vn/trau-dau-son.html https://tracuuduoclieu.vn/trau-dau-son.html#respond Tue, 08 May 2018 18:38:11 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/trau-dau-son/ Mô tả cây
  • Trẩu là một cây to, cao có thể tới 8m hay nhiều hơn, thân nhẵn.
  • Lá đa dạng, khi thì có thùy sâu, khi thì xẻ nông, khi thì nguyên và hình tim, mặt trên bong, màu sẫm, mặt dưới mờ, màu nhạt. Các lá đa dạng đều có một đặc điểm chung: Ở gốc phiến lá và kẽ thùy bao giờ cũng có 2 tuyến đỏ nổi rõ, cuống lá dài 7-10cm.
  • Hoa đơn tính, cùng gốc, có khi khác gốc. Tràng 5, màu trắng, đốm tía ở móng tràng.
  • Quả hình trứng, màu lục, đường kính 35cm, mặt ngoài nhăn nheo, cấu tạo bởi 3 mảnh vỏ, mỗi mảnh có 1 đường gân nổi cao, 3 hạt có nội nhũ to chứa có lá xẻ thùy nhiều dầu.
  • Mùa hoa tháng 3-4, thường ra hoa trước khi lá non xuất hiện. Thường tháng 9 lại có một vụ hoa nữa. Quả của lứa hoa trước chin vào khoảng tháng 10.

Phân bố, thu hái và chế biến

  • Cây trẩu mọc hoang và được trồng ở nhiều vùng từ cao đến thấp, miền núi cũng như đồng bằng ở khắp nước ta. Trẩu ưa đất mát, thoát nước, trên các dốc. Hầu hết các tỉnh đều có trẩu, miền Bắc như Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hoà Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Tại Hoa Nam Trung Quốc trẩu mọc và được trồng ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây.
  • Tuy trẩu không đòi hỏi đất lắm nhưng những nơi nào đất không có độ xốp vừa phải, đất không mát và không đủ tốt thì cây trẩu chóng chết. Ở những đất thích hợp, cây trẩu mọc rất nhanh, ra hoa ngay vào vào năm thứ 2 hay thứ 3, cành mọc thành tầng ngang, đều, ngay khi còn ít năm đã có thể cao tới 12-15m. Có thể trồng để che phủ chè, dứa, hoàng tinh hay cà phê. 100kg hạt cho trung bình 52kg nhân, 46,74kg vỏ hạt (hạt hụt chừng 1,26%). Một tạ hạt (cả vỏ) cho chừng 19-20kg dầu và 60-65kg khô.

Thành phần hoá học

  • Hạt trẩu có chứa tới 50-70% dầu. Dầu trẩu lỏng màu vàng nhạt, chóng khô. Trong dầu trẩu có chừng 70 đến 79% axit stearic, 8-12% axlinoleic, 10-15% zxit oleic.
  • Dầu trẩu mau khô, khi kết thành màng có tính chất chống ẩm chịu được thời tiết biến đổi cao, sức co giãn tốt có tác dụng chốc gỉ.
  • Trong lá và hạt có saponorit độc không thể dùng làm thức ăn cho gia súc được.

Công dụng và liều dùng

Hiện nay công dụng chủ yếu của trẩu chỉ là dùng hạt lép dầu để pha sơn , quét lên vải cho khỏi mưa ướt. Giá trị xuất khẩu rất cao. Khô trẩu chỉ dùng chỉ mới dùng làm phân bón ruộng. Làm thuốc người ta dùng nhân hạt trẩu đốt thành than, tán bột hoà với mỡ lợn bôi chữa chốc lở, mụn nhọt. Vỏ cây trẩu sắc với nước dùng ngậm chữa đau và sâu răng. Ngày ngậm nhiều lần, nhổ nước đi không được nuốt.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/trau-dau-son.html/feed 0
Sâu ban miêu https://tracuuduoclieu.vn/sau-ban-mieu.html https://tracuuduoclieu.vn/sau-ban-mieu.html#respond Thu, 03 May 2018 00:54:34 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/sau-ban-mieu/ Mô tả con sâu

Tên sâu ban miêu được dùng để chỉ nhiều thứ sâu có tính chất gây rộp da giống nhau, vả đều được dùng làm thuốc. Sau đây là một số chính:

  • Sâu Caniharis vesicatoria là một thứ sâu nhỏ, có cánh cứng, màu xanh lục biếc, dài từ 15- 20mm, ngang 4-6mm. Đầu hình tim có một rãnh dọc ở giữa đầu, râu đen hình sợi, có 11 đốt. Giữa đầu và ngực có một chỗ thắt lại. Ngực cũng có một rãnh dọc, bụng dài tròn, dưới cánh cứng là hai cánh mềm, trong. Chân gầy, con đực nhỏ hơn con cái, mùi rất hăng, khó chịu, vị không có gì đặc biệt, nhưng da nơi sâu chạm phải (lưỡi, môi) sẽ bị rộp lên. Ở các nước khác (Pháp, Ý, Anh …) sâu này sống trên các cây táo, cây bông, cây liễu v.v… Việt Nam có thấy con này nhưng ít dùng.
  • Sâu ban miêu ở Việt Nam hay dùng gọi là sâu đậu vì sống trên cây đậu cùng loài với sâu ban miêu Trung Quốc. Sâu ban miều Trung Quốc và một số nước khác thuộc giống Mylabris, cũng có râu gồm 11 đốt, đốt cuối phình lớn lên, thân hơi khum màu đen với các điểm màu vàng hoặc đỏ nhạt, có khi thân màu vàng với các điểm hay dải ngang màu đen.

Phân bố, thu bắt và chế biến

  • Sâu ban miêu sống hoang dại ở khắp các tỉnh nước ta. Vào sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, lúc sâu chưa tỉnh người ta đi bắt hoặc lắc cành lá cho sâu ngã vào túi vải, hoặc có khi dùng vợt để vợt.
  • Ở Việt Nam mùa bắt vào giữa tháng 5 đến giữa tháng 6 (Khoảng 20-4 đến 15-5 âm lịch). Sau đó nhúng cả túi hay vợt vào nước sôi cho sâu chết. Có nơi sau khi sâu chết lại hơ trên hơi dấm đun sôi rồi mới đem phơi cho khô hoặc sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ thấp. Sâu ban miêu phải đựng trong lọ kín, để nơi khô ráo, vì ẩm sẽ làm hỏng sâu.
  • Trong y học cổ truyền, khi dùng còn ngắt bỏ đầu, bỏ ruột (Cấu đốt sau cùng rồi rút ra, ruột sẽ ra theo). Khi dùng còn sao với gạo nếp 1-2 lẩn để giảm bớt độ độc.
  • Việc bảo quản sâu ban miêu rất khó, vì có một số sâu bọ khác hay ăn các bộ phận mềm của sâu ban miêu. Muốn bảo quản thường người ta cho một ít long não hay thủy ngân vào đáy lọ. Hoặc ngay sau khi ở lò sấy ra, còn đang nóng cho ngay vào các lọ đã tiệt trùng rồi đậy kín. Thời gian gần đây, do việc sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu hóa học, thêm vào việc sử dụng sâu ban miêu có giảm nên việc thu bắt sâu ban miêu hầu như không được chú ý.

Thành phần hóa học

  • Trong sâu ban miêu ngoài các chất phụ như photphat, axit uric, một dầu béo màu lục không có tính chất gây phồng, có chất cantharidin là hoạt chất gây phồng da với hàm lượng tới 0,4%. (Sâu ban miêu thuộc chi Mylabris có thể có tới 1,25%). Chất cantharidin C10H12 do Robiquet tìm ra năm 1813, một phần ở thể tự do, một phần ở dạng kết hợp với magiê.
  • Cantharidin không có trong các bộ phận cứng và bộ phận tiêu hóa. Chủ yếu gặp trong máu, trong các bộ phận sinh dục. Cantharidin có tinh thể hình phiến không có màu, không mùi, trung tính, rất tan trong nước, tan trong axeton, ête nguội, tinh dầu thông đun sôi, axit axetic nóng và axit focmic. Chảy ở 218°C. Thăng hoa từ nhiệt độ l21 độ C. Các cantharidat tan trong nước nếu có các oxyt kim loại. Những cantharidat này bị axit tác dụng sẽ lại cho cantharidin chứ khống cho axit cantharidic. Đun sôi với kiềm trong môi trường nước sẽ cho axit cantharidic C10H14O5 . Vậy cantharidin là anhydrit của axit cantharidic.

Công dụng và liều dùng

  • Ban miêu được dùng chủ yếu bên ngoài làm thuốc rộp da để gây mụn dẫn độc hoặc làm thuốc tụ bệnh.
  • Uống trong có thể gây xót dạ dày và ruột rồi đi tới viêm các bộ phận sinh dục và tiểu tiện. có khi chỉ dán thuốc rộp có ban miêu cũng thấy có hiện tượng này xảy ra. Ban miêu thuộc loại độc bảng A, hiện chưa thấy dùng uống trong. Tuy nhiên người ta còn dùng cồn ban miêu với liều (8-10 giọt) trong bệnh viêm thượng bì thận hay cường dương (rất nguy hiểm và giả tạo) làm thuốc thông tiểu và chữa phù.
  • Bột ban miêu: ngày uống 0,02-0,03g (tối đa 0,03g/lần; 0,06 g một giờ)
  • Cồn ban miêu: 10%-VI-X giọt uống để gây rộp da hoặc tụ máu
  • Thuốc cao dán có ban miêu để dán vào nơi định gây rộp.
  • Ngộ độc do sâu ban miêu: do việc sử dụng tự động sâu ban miêu trong nhân dân không đúng liều lượng nên đã xảy ra nhiều vụ ngộ độc đáng tiếc cho nên ta cũng nên biết qua một số triệu chứng khi bị ngộ độc do sâu ban miêu.
  • Ngộ độc sâu ban miêu thường rất đau đớn và nặng với những triệu chứng ở dạ dày và ruột, tiểu tiện ít và có máu, dương vật cương lên rất đau đớn cuối cùng co những rối loạn về thần kinh hôn mê và chết trong vòng 24 giờ
  • Người ta cho rằng với liều 3-4g sâu ban miêu ( liều tối đa 0,03g /lần và 0,06g/ 24 giờ) hoặc 20-30g cồn sâu ban miêu 9liều tối đa 0,5g/lần và 1,25g/24 giờ) hoặc 0,02-0,03g cantharedin (liều tối đa 2/10mg/lần cũng là 2/10mg/24 giờ) đủ làm cho chết người nhưng người ta cũng nhận thấy có nhiều trường hợp ngộ độc do dùng liều thấp hơn các liều trên rất nhiều.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/sau-ban-mieu.html/feed 0
Thuốc Lá https://tracuuduoclieu.vn/thuoc-la.html https://tracuuduoclieu.vn/thuoc-la.html#respond Wed, 02 May 2018 20:57:40 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/thuoc-la/ Thuốc Lá 1

Hình ảnh cây thuốc lá

Mô tả cây

  • Cây thảo, sống hàng năm, phần gốc thân hoá gỗ ít nhiều. Thân mọc đứng, có nhiều lông, phân cành ở ngọn, các lá ở phía trên bé hơn, hình lưỡi mác. Phiến lá to có thể dài 60-75cm, rộng 30-50cm, không cuống, một mẩu lá phía dưới ôm vào thân.
  • Hoa nhiều, tập hợp thành chùy ở ngọn. Đài có lông, tràng màu trắng hay hồng hoặc tím nhạt. Quả nang có 2 ô, có đài tồn tại bọc ở ngoài, hạt bé, nhiều, màu đen: 1ml có thể chứa tới 6.000 hạt.
  • Cùng loại với cây thuốc lá, ở nước ta còn trồng cây thuốc lào Nicotiana rustica L. thân thấp hơn, lá to và dày hơn.

Phân bố, thu hái và chế biến

  • Cây thuốc lá vốn nguồn gốc ở châu Mỹ, nhưng được đưa về trồng ở nhiều nước trên thế giới: Người ta uớc tình mỗi năm toàn thế giới sản xuất khoảng 4 triệu tấn thuốc lá khô, trong đó 3/4 sản xuất ở châu Mỹ và các nước châu Á. Những nước sản xuất nhiều thuốc lá trên thế giới có Mỹ (gần một triệu tấn/năm), Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Nhật Bản.
  • Ở nước ta việc trồng thuốc lá chỉ mới được phát triển sau Cách mạng tháng tám, vì trước đây hồi thuộc Pháp, việc trồng thuốc lá, thuốc lào bị hạn chế, phải xin phép. Thuốc lào thường chỉ trồng tập trung ở một số tỉnh như Hải Dương, Hưng Yên (Vĩnh Bảo), Hải Phòng (Tiên Lãng)… Những năm gần đây thuốc lá được trồng ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tây (Ba Vì), Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc…
  • Trồng thuốc lá bằng hạt. Trước hết phải gieo hạt. Khi cây con cao chừng 10-15cm mới đánh đi trồng ở nơi cố định. Khoảng cách giữa mỗi cây chừng 65cm (tỉ lệ nicotin càng cao nếu các cây cách xa nhau vừa đủ). Thời vụ gieo trồng thay đổi theo giống và điều kiện khí hậu từng vùng. Ở Vĩnh Phúc người ta trồng vào tháng 12 (cho năng suất cao nhất), bắt đầu thu hái từ tháng 4, tháng 5: Thu hái lá từ phía dưới lên, trung bình mỗi hecta cho khoảng 1 tấn lá khô/năm. Trong thu hoạch thuốc lá, công việc phơi sấy đóng vai trò quyết định chất lượng của thuốc lá. Có thể phơi nắng nhưng để chủ động người ta thường sấy. Do đó cùng với việc trồng thuốc lá, nhất thiết phải thiết kế lò sấy.
  • Mặc dầu thuốc lá là một chất độc, nhưng thế giới hiện nay vẫn trồng thuốc lá chủ yếu để hút, một số rất ít dùng làm thuốc trừ sâu bệnh cho cây trồng, một số ít nữa dùng làm thuốc chữa bệnh.

Thành phần hoá học

  • Thuốc lá đã phơi hay sấy khô còn chứa tới 20% nước, hàm lượng chất vô cơ cũng rất cao: 15 đến 20% trong đó chủ yếu là kali, canxi, photphát, nitrat.
  • Trong thuốc lá còn xanh, hàm lượng gluxit khá cao: Tới 40% bao gồm chủ yếu là tinh bột (8-12%), đường tan được (2-4%) rồi đến pectin, xenluloza. Trong quá trình khô, lá bắt đầu ngả vàng, hàm lượng tinh bột và đường giảm xuống rất nhanh.
  • Các chất protein và lipit thường chỉ chiếm 12 và 5% trọng lượng khô.
  • Hàm lượng các axit hữu cơ cũng rất cao: 15-20% trong đó chủ yếu là axit malic, kèm theo axit xitric, các axit-phenol như axit cafeic, clorogenic (2-4% trọng lượng khô), axit quinic, và một axit đặc biệt: axit nicotinic (β pyridine cacbonic).
  • Trong thuốc lá còn có các hợp chất đa phenol: Ngoài axit clorogenic, còn có các flavonozit: rutozit chiếm 1%, izoquexitrozit, quexetol, vết cumarin, scopoletol. Các hợp chất đa phenol đóng vai trò quan trọng trong màu sắc và hương vị thuốc lá.
  • Thuốc lá còn chứa một ít tinh dầu (linalola, bocneola), các hợp chất kiềm bay hơi (pyridine, N-metyl pyrrolidin), nhiều men (gluxidaza, oxydaza, catalaza).
  • Người ta cho hoạt chất chủ yếu của thuốc lá, thuốc lào là chất nicotin. Hàm lượng nicotin thay đổi từ 2 đến 10%, thuốc lào có thể chứa tới 16% nicotin.
  • Nicotin là một ancaloit được chiết từ thuốc lá từ năm 1828. Đây là một chất kiềm không chứa oxy, công thức thô là C10H14N2 với một nhân là pyridine và một nhân là Nmetyl-pyrolidin. Nicotin là một chất lỏng sánh, mùi hắc, vị nóng, cay. Khi tinh khiết, không có màu, nhưng ra ánh sáng và không khí ngả màu nâu. Nicotin tan trong nước, rất tan trong các dung môi hữu cơ. Nicotin là một ancaloit bay hơi mạnh, khi tiếp xúc với axit clohydric cho khói trắng.
  • Bên cạnh nicotin người ta còn thấy nornicotin (có nhiều trong một số loài thuốc lá trồng), anabasin (vì lần đầu tiên được chiết từ cây thuộc chi Anabasis) họ Rau muối (Chenopodiaceae). Anabasin là đồng phân của nicotin. Ngoài ra người ta còn thấy một ít chất như nicotelin, nicotyrin, myosmin…

Thành phần thuốc lá thay đổi nhiều trong quá trình phơi sấy và chế biến. Thường bao giờ trong thuốc lá phơi sấy hay chế biến, người ta nhận thấy:

  • Tinh bột và đường hầu như giảm hoàn toàn.
  • Axit malic giảm.
  • Các protit thoái hoá và xuất hiện các dạng hợp chất tan như axit amin, asparagin.
  • Hàm lượng nicotin có thể bị giảm, ngược lại hàm lượng axit nicotinic có thể tăng lên, hàm lượng axit clorogenic cũng giảm xuống.
  • Các hợp chất đa phenol bị ôxy hoá làm cho thuốc lá chuyển màu nâu.
  • Xuất hiện các axit béo tự do, các ancol và este thơm.

Tác dụng dược lý

  • Thuốc lá là một cây độc, nhất là những lá già, có hàm lượng nicotin cao.
  • Người ta đã thấy người lớn đã chết do đã dùng 15 đến 20 gam thuốc lá dưới dạng hãm để thụt. Trẻ con chỉ cần vài gam cũng đủ chết.
  • Một số con vật nuôi trong nhà cũng rất nhạy cảm với nicotin nhưng người ta thấy một số con vật nhai lại có thể ăn những cây thuốc lá non mà không bị ngộ độc.
  • Nicotin là một chất độc mạnh hơn: Liều chết cho một người lớn là 0,06gam.
  • Gần đây, những công trình nghiên cứu cho biết thuốc lá đóng vai trò làm tăng những bệnh tim mạch và một số dạng ung thư. Thống kê cho biết những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi cao hơn là số người không hút. Nhựa của khói thuốc lá bôi lên da chuột có thể gây ung thư da. Cho nên gần đây người ta đang tìm cách hạn chế sự độc hại của thuốc lá bằng vận động không hút thuốc lá, hoặc hút thuốc lá đã loại bớt nicotin, hay hút thuốc lá có những đầu lọc bớt nicotin.

Công dụng và liều dùng

  • Mặc dầu biết hút thuốc lá là một chất độc, nhưng việc tiêu thụ thuốc lá trên thế giới ngày càng tăng. Người ta đã ướ tính bình quân một đầu người, một năm ở Thụy Sĩ dùng tơi 5kg thuốc lá, tại Mỹ mỗi người mỗi năm tiêu thụ 4,8kg, tại Pháp 2,3kg.
  • Hiện nay thuốc lá, thuốc lào ít dùng làm thuốc đối với người: Trong nhân dân, người ta dùng thuốc lào, thuốc lá để đắp vào những nơi đứt tay chân, chảy máu để cầm máu. Còn dùng chữa rắn, rết côn trùng cắn.
  • Thuốc lá hay được dùng chửa bệnh cho gia súc và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng (bảo vệt thực vật).
  • Đối với cây trồng người ta dùng bột vụn thuốc lá (dư phẩm của công nghiệp thuốc lá), dịch chiết thuốc lá hay dư phẩm công nghiệp thuốc lá có chứa mỗi lít từ 10 đến 20g sunfat nicotin. Khi dùng người tap ha loãng thành dung dịch chứa 1% nicotin rồi phun lên cây có sâu bọ. Nicotin không độc với cây trồng, nhưng sâu bọ hoặc tiếp xúc, hoặc hút nước có nicotin hoặc hít thở hơi thuốc sẽ bị ngộ độc. Tuy nhiên vì đây là chất độc, cho nên việc sử dụng phải theo đúng những quy định để tránh ngộ độc cho người sử dụng.
  • Đối với súc vật người ta dùng thuốc lá thuốc lào pha nước để chữa ghẻ, chấy rận, bọ chó: Dùng dung dịch chứa 1% nicotin. Tránh bôi lên những nơi da bị sây sát để tránh ngộ độc.
  • Đôi khi người ta dùng trị giun sán của bò, dê với liều 5-6ml đối với bò, 1-2ml đối với dê, cao thuốc lá có chứa 40% nicotin.

 

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/thuoc-la.html/feed 0
Sui https://tracuuduoclieu.vn/sui.html https://tracuuduoclieu.vn/sui.html#respond Tue, 24 Apr 2018 01:14:48 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/sui/ Mô tả cây
  • Cây sui là một loại cây lớn, có thể cao tới 30m, có gốc rất lớn. Lá nhị lệ, có cuống dài 8-10 cm, phiến lá dài chừng 6cm, rộng khoảng 5,5cm. Cả hai mặt lá đều hơi nháp.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá, cùng gốc: hoa đực mọc tụ trên một đế hoa phồng phồng khum lên, quanh đế hoa có tổng bao gồm nhiều hang lá bắc, hoa cái mọc đơn độc trên một đế cũng có tổng bao.
  • Quả thịt dài 18mm, dày 12mm, hạt hình trứng, dài 13mm, rộng 8mm.

Phân bố thu hái

  • Cây sui mọc hoang khá nhiều ở các miền núi Việt nam. Ngoài ra còn mọc hoang cả ở miền Nam Trung quốc (Hải Nam), Ấn Độ, Indonexia và Malaixia.
  • Nhân dân vẫn thường dùng lấy nhựa sui bằng cách băm vỏ cây, thu nhập nhựa chảy ra, dùng để tẩm tên thuốc độc bằng tre hay bằng kim loại để săn bắn thú dữ lớn. Vỏ cây sui được làm chăn đắp hay may quần áo hoặc làm túi đựng các đồ vật.

Thành phần hoá học

  • Nhựa sui được nghiên cứu tại các nước từ lâu.
  • Năm 1890 người ta đã phân tích lấy được từ trong nhựa sui hai chất glucozit làm mạnh tim, độc gọi là anpha antiarin (α-antiarin) và beta antiarin (β-antiarin), αC29H42O11.4H2O là một chất bột có tinh thể, phản ứng trung tính. Nó tan trong 250 phần nước ở 200 và 27 phần nước sôi, 70 phần rượu 850, 2.800 phần ester
  • Thuốc thử kiliani (axit sunfuric có pha sắt ba dunfat) hoà tan antiarin cho dung dịch màu vàng sau ngả màu vàng cam
  • HCl pha loãng trong môi trường rượu đun sôi, thuỷ phân antiarin để cho một đường tương tự như ramnoza gọi antiaroza hay d gulometyloza C6H12O5 và một chất không đường có tinh thể gọi là antiarigenin có độ chảy 180oC
  • Α-antiarin chảy ở 242oC (có tài liệu nói độ chảy của antiarin.4H2O là 220-225oC) độ quay cực αD=-40 β-antiarin C29H42O11.3H2O có cùng một công thức như α-antiarin, nhưng ngậm có 3 phân tử nước. thuỷ phân β-antiarin cho 1.ramnoza và antiarigenin β-antiarin có tinh thể hình kim hay hình trụ. Độ chảy 225oC (có tài liệu nói 206-207oC)
  • Cả hai chất α-antiarin β-antiarin khi thuỷ phân mạnh đều cho dihydroantiagenin. Do đó các tác gỉ Tschesche và Haupt (1936) cũng như Reichstein (1948) cho rằng hai chất antiarin chỉ khác nhau do phần đường mà thôi và antiaroza hay d.gulometyloza ở antiarin cũng chỉ là đồng phân cỏa 1.ramnoza (ở antiarin)

Tác dụng dược lý

Các chất α và β-antiarin đều rất độc và có tác dụng mạnh tim:

  1. Theo Trần Khắc Khôi (1937, J.Am.Pharm-Assoc:26:214), tác dụng của β-antiarin mạnh hơn α-antiarin
  2. Theo Ridley H.H (1930 J.Trop.Med.Hyg:185:186) thì nhựa sui nguyên chất sánh và hấp thụ chậm
    Tiêm dưới da cho chó không gây độc thường xuyên. Nhưng nếu dùng nước sắc của cây mã tiền Strychnos ovalifolia để làm lỏng nhự sui rồi cũng tiêm dưới da như trên thì làm con chó thở mau, khó nhọc, nôn mửa, co quắp rồi chết
  3. Năm 1949 hai tác giả Trung quốc toàn Từ Quang và Hàn Triết Vũ (Trung hoa y học tạp chí 31:120) có báo cáo về độc tính của antiarin
  4. Thường người ta cho rằng nhựa sui uống không độc, nhưng nếu có vết thương, vết loét nhựa vào thẳng máu thì rất độc. Nó gây kích ứng mạnh trên da và có thể gây viêm mắt nguy hiểm, tuy nhiên người ta ăn thịt những con vật bị tên tẩm nhựa sui bắn chết mà không có hiện tượng ngộ độc.

Công dụng và liều dùng

  • Có người cho rằng nhựa sui uống vào chữa đau bụng và gây ỉa mạnh nhưng việc sử dụng rất nguy hiểm có thể chết người.
  • Thường người ta chỉ hay dùng nhựa sui tẩm tên độc để săn bắn các thú rừng lớn. Thịt những thú rừng săn được mềm mại ăn được.
  • Muốn làm chân sui thay thế vỏ sui may quần áo, người ta ngâm vỏ cây sui trong hồ ao trong vài ngày. Sau đó bóc lấy vỏ. khi làm vỏ cần chú ý tay và cánh tay không có vết sây sát, thương tổn, vì nếu để nhựa sui vào máu thì bị độc rất nguy hiểm. Cần chú ý nghiên cứu.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/sui.html/feed 0
Sơn https://tracuuduoclieu.vn/son.html https://tracuuduoclieu.vn/son.html#respond Tue, 24 Apr 2018 01:03:49 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/son/ Mô tả cây

Cây nhỡ, lá kép lông chim lẻ có 3-6 đôi lá chét. Lá chét mỏng nguyên nhẵn, phiến hình thuôn mũi mác, đầu nhọn, phần gốc không đều, mép nguyên. Hoa tập họp thành chùy đơn, nhẵn hoặc hơi có lông, đài hợp, phía trên xẻ thành răng, tràng 3, nhị 5, quả bạch hơi dẹt, không có lông. Mùa hoa: tháng 4, mùa quả chính: tháng 11.

Phân bố, thu hái và chế biến

  • Mọc hoang hay được trồng ở Việt Nam, nhiều nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc (Thanh Ba, Cẩm Khê, Tam Nông…). Còn thấy ở Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Còn mọc ở Trung Quốc, Nhật Bản.
  • Trồng bằng hạt vào tháng 10. Trước khi gieo, ngâm hạt vào nước 48 giờ để cho chóng mọc. Khi cây lớn, trồng thành hàng cách nhau 2m. Năm thứ 3 trở đi có thể lấy nhựa. Dùng dao con khía vào một nửa thân theo hình chữ V, khía từ phía dưới gốc lên. Cứ khía một phía cây cho tới 2,5m sẽ bắt đầu khía sang phía bên kia. Khía xong cắm ở góc nhọn chữ V một mảnh vỏ con trai (hến) để hứng nhựa. Cần tránh nắng quá, vì như vậy sơn sẽ bị oxy hoá, kém giá trị.
  • Ra ngoài trời, sơn sẽ sẫm màu và có một màng màu đen sẫm, không tan trong các dung môi thông thường, chịu tác dụng của axit và kềm do đó sơn là một chất rất qúy có thể dùng trong nhiều công việc. Sơn ta không dẫn điện (hơn cả mica). Để khô tự nhiên chịu được nhiệt độ 410oC mà không bị hỏng. Sấy khô có thể chịu tới nhiệt độ 550oC.

Thành phần hoá học

  • Sơn thuộc loại nhựa dầu (oleoresin). Thành phần chủ yếu là chất laccol, một diorthophenol có dính một dây truyền ngang không no. Laccol chịu ảnh hưởng của men laccaza có sẵn trong sơn, dễ bị oxy hoá trong môi trường oxy củ khí trời để thành một chất bong đen rất bền.
  • Năm 1883, Hikorohuro Yoshida đã lấy ra từ sơn chất axit urushic hay axit lacxit hay urushiol chiếm tới 80%. Nhưng đây chỉ là một hỗn hợp 5 thành phần khác nhau tỷ lệ khác nhau tuỳ theo nguồn gốc.

Công dụng và liều dùng

  • Sơn khô được dùng làm thuốc từ lâu đời với tên can tất. Theo tài liệu cổ can tất có vị cay, tính ôn, không độc, có tác dụng phá huyết, tiêu tích, táo thấp sát trùng, đốt lấy khói hớp vào cổ họng chữa hầu tê, thường dùng trị giun đũa, giun kim, phụ nữ đau bụng có hòn khối. Khi dùng nên giã nát sao chin, nếu dùng sơn sống sao khô cũng được. Tuy nhiên nhiều người không chịu được sơn hay bị lở sơn. Người ta cho rằng nguyên nhân gây lở sơn là do một chất độc bốc hơi được có ở trong sơn với một lượng rất nhỏ. Khi đã bị lở sơn, người ta giã lá khế đắp lên nơi lở.
  • Trong công nghiệp, sơn chủ yếu được dùng trong công nghiệp sơn, trong mỹ nghệ (tranh sơn mài), đồ dùng không dẫn điện, sơn các dụng cụ cần chịu cồn, axit kiềm.

Đơn thuốc có sơn

Chữa các chứng hầu tê châm chích không tới được: Dùng can tất đốt lấy khói thổi vào cổ họng.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/son.html/feed 0
Cây Sở (Trà mai) https://tracuuduoclieu.vn/so-tra-mai.html https://tracuuduoclieu.vn/so-tra-mai.html#respond Tue, 24 Apr 2018 01:01:27 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/so-tra-mai/ Mô tả cây
  • Cây thân nhỡ, cao 4-10m. Thân cành nhẵn, màu xám nhạt.
  • Lá mọc so le, dày ,hầu như không cuống, hình mác thuôn hay hình trứng thuôn dài, đầu nhọn, phía cuống hơi hẹp, phiến lá dai, nhẵn, mép có răng cưa, dài 3-6cm, rộng 1,5-3cm.
  • Hoa mọc riêng lẻ hoặc đôi  ở nách hay ở ngọn, tụ từng 1-4 cái, màu trắng, đường kính 3,5cm.
  • Quả nang, đường kính 2,5-3cm, hơi có lông, đỉnh tròn hơi nhọn, thành dày, có 3 ngăn, mở dọ theo ngăn, mỗi ngăn có 1-3 hạt có vỏ ngoài cứng, lá mầm dày, chứa nhiều dầu.
  • Mùa ra hoa : Tháng 8-11.

Phân bố, thu hái và chế biến

  • Sở mọc và được trồng ỡ Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Miến Điện
  •  Ở Việt Nam, Cây dầu sở được trồng nhiều nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ rồi các tỉnh khác có ít hơn như Hoà Bình, Hà Tây, vùng huyện Nho Quan thuộc Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn. Cao Bằng. tại miền Trung ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh đến cả những tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế cũng có mọc. có một số nơ có cây sở mọc hoang.
  • Muốn trồng sở cần chọn những đất nham thạch (schisteux) cát và đất thó, có độ dốc, hình như cây rất sợ nước đọng, do đó những ven hồ, ao, những bãi ẩm cây không mọc được. Nó còn đòi hỏi độ ẩm cần thiết của không khí và tránh những nơi có gió lạnh. Thường trồng xen kẽ với cây chè và cây sơn. Cuối tháng 2 vào mùa mưa phùn, người ta vùi hạt sâu chừng 3-4cm, cần chọn những hạt vừa thu hoạch tong mùa vừa qua. Thường trồng theo những hang cách nhau 6m và mỗi cây trên mỗi hang lại cách nhau chừng 4,55m, nếu trồng xen kẽ với sơn thì mỗi hang cách nhau 4 cây sơn, trên lỗi hang mỗ icây lại cách nhau 3 cây sơn. Sau 4 năm cây đã cao 1,8-2m, sau 6 năm bắt đầu thu hoạch được quả thì cây cao chừng 3m. cây 8 năm tuổi cao chừng 4,5-5m và cho chừng 8-10kg quả, vào năm thứ 15 là năm ch thu hoạch cao nhất, cây sở cho chừng 40kg quả. Cây lúc này có dáng rất đặc biệt, đứng xa cũng nhận dược dáng hơi hình cầu của tán cây. Mùa hoa tháng 11-12, quả chin và thu hoạch vào tháng 9-10 năm sau. Thường cây sở cho 2 năm thu hoạch cao thì 1 năm lại thu hoạch thấp. nếu đong bằng lít thì 2 năm thu hoạch cao chừng 90 lít quả thì năm thấp chỉ được 20 lít. Việc chăm sóc hầu như rất ít, chỉ mấy năm đầu cần làm cỏ. nhưng thường chăm sóc cho chè và sơn chủ yếu, còn cây sở ít đòi hỏi hơn. Thường 100kg quả cho chừng 50 kg nhân hạt và 100kg hạt cho chừng 15-16 lít dầu và chừng 80-85kg khô sở.

Bộ phận sử dụng

Dầu hạt và lá.

Tính vị

Dầu hạt sở có vị nhờn béo, có tác dụng sát trùng, giải độc

Thành phần hoá học

  • Trong lá có chứa 0,4-1% tinh dầu. tỷ trọng ở 210 là 1,061, thành phần chủ yếu của tinh dầu là eugenol C10H12O2, tỷ lệ đạt tới 95-96%
  • Trong hạt có chứa chừng 58-60% chất dầu mỏng, màu nâu vàng nhạt hay vàng rơm, mùi nhẹ, dễ chịu:tỷ trọng ở 150C là 0,900, không tan trong cồn 950, độ axit biểu thị bằng axit oleic là 2,876g trong 1kg dầu
  • Từ khô sở: F.Guichard và Bùi Đình Sang đã chiết được 28% asponizit có phản ứng trung tính của những sapotoxin. Sapotoxin này màu vàng nhạt, tan trong nước, trong cồn 90 độ trong cồn metylic, không tan trong cồn nóng. Thuỷ phân cho fructoza và một sapogenin chảy 238-245 độ C

Tác dụng và liều dùng

  • Dầu sở được dùng làm thực phẩm, nấu xà phòng, thắp đèn, chữa ghẻ lở
  • Khô dầu sở dùng làm phân bón, thuốc trừ sâu, trừ giun đất, không thể dùng cho súc vật ăn dược vì có độc. khô dầu sở còn có thể dùng làm nguyên liệu để chiết saponozit dùng trong những kỹ nghệ khác. Bó gãy xương: Lá sở 50g, lá náng 50g, hai thứ giã nhỏ. Đắp và bó.
  • Lá sở ở ta chưa thấy khai thác. Tại Liên Xô cũ người ta coi đây là một nguồn tinh dầu chứa eugenol quan trọng. Ta nên chú ý nghiên cứu để tận dụng.

Chú thích

  • Ngoài cây sở nói trên, trong Quảng Châu thực vật chí có phân biệt và kể cây du trà Camellia oleosa (Lour Rehd.) cùng họ với sở và có các tên khác là Thea oleosa Lour, Camellia drupifera Lour. Theo Quảng Châu thực vật chí thì cây này mới được nhân dân vùng trung, tây nam và nam Trung Quốc trồng để lấy dầu dùng ăn, làm thuốc.
  • Cần chú ý xác định lại, đối chiếu với cây của ta.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/so-tra-mai.html/feed 0
Mộc hoa trắng https://tracuuduoclieu.vn/moc-hoa-trang.html https://tracuuduoclieu.vn/moc-hoa-trang.html#respond Thu, 19 Apr 2018 23:35:26 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/moc-hoa-trang/ Mô tả cây
  • Cây nhỏ hoặc to, có thể cao tới 12m. Cành non nhẵn hoặc mang lông màu nâu đỏ, trên mặt có nhiều bì khổng trắng rõ. Sẹo lá còn sót lại thường nổi lên.
  • Lá mọc đối gần như không cuống, không có lá kèm, nguyên, hình bầu dục đầu tù hay nhọn, đáy lá tròn hoặc nhọn, dài từ 12-15cm, rộng từ 4-8cm, mặt lá bóng, màu xanh lục nhạt.
  • Hoa trắng mọc thành xim hình ngù ở kẻ lá hay đầu cành.
  • Quả là những đại màu nâu có vân dọc hơi hình cung dài 15-30cm, rộng 5-7mm. Rất nhiều hạt dài 10-20mm, rộng 22,5mm, dày 1-1,5mm màu nâu nhạt, đáy tròn, đầu hơi hẹp lõm một mặt, trên mặt có một đường còn màu trắng hơi nhạt. Chùm lông của hạt màu hơi hung hung, dài 2-4,5cm. Lá mầm gấp nhiều lần.

Mùa hoa nở: tháng 3-7, mùa quả tháng 6-12

Phân bố

  • Mọc khắp nơi ở Việt Nam. Tại miền bắc có ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình và nhiều tỉnh khác
  • Còn mọc ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Malaysia

Thành phần hóa học

Từ vỏ hạt cây mộc hoa trắng người ta đã chiết xuất các ancaloit chủ yếu sau đây:

  • Chất conesin có tinh thể hình lăng trụ (kết tinh trong axêtôn) độ chảy 125 oC, αD = -1,9o (CHCl3) hoặc + 21oC (C2H5OH). Cho muối clohydrat, bromhydrat và oxalate có tinh thể. Conesin cho phản ứng sau đây: Hoà tan một ít conesin trong 8 giọt H2SO4. Thêm một giọt HNO3 đặc vào sẽ có ngay màu vàng tươi. Màu vàng sẫm dần. Nếu thêm một giọt axit nitric nữa, sẽ ngả màu nâu bẩn, sau ngả màu lục.
  • Theo Ciaus J. F. Mhaskar trong hạt mộc hoa trắng có từ 36-40% dầu và 0,025% ancaloit.

Tác dụng dược lý

  • Chất conesin rất ít độc. Với liều cao, tác dụng của nó gần giống morphin, nó gây liệt đối với trung tâm hô hấp. Nếu tiêm, nó gây tê tại chỗ nhưng lại kèm theo hiện tượng hoại thư do đó không dùng gây tê được.
  • Conesin bài tiết một phần qua đường ruột, một phần qua đường tiểu tiện. Nó gây hạ huyết áp và làm tim đập chậm.
  • Conesin kích thích sự co bóp ruột và tử cung.
  • Theo Janot M. M. và Cavier R. (1949. Ann. Pharmaceut. Frane: 549-552) conesin clohydrat, có tác dụng trừ giun đối với chuột bạch.
  • Trên lâm sàng, người ta dùng conesin clohydrat hay bromhydrat chữa lỵ amip. Hiệu lực như emetin lại hơn emetin ở chỗ ít độc và tiện dùng. Nó tác dụng cả đối với kén và amip, còn emetin chỉ tác dụng đối với amip. Hiện tượng không chịu thuốc rất ít hoặc không đáng kể.

Công dụng và liều dùng

Hạt và vỏ được dùng làm thuốc chữa lỵ amip. Thường dùng dưới dạng bột, cồn thuốc hoặc cao lỏng.

  • Bột vỏ ngày uống 10g
  • Bột hạt ngày uống 3-6g
  • Cao lỏng 1/1 ngày uống 1-3g
  • Cồn hạt (1/5) ngày uống 2-6g

 

 

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/moc-hoa-trang.html/feed 0
Nọc ong https://tracuuduoclieu.vn/noc-ong.html https://tracuuduoclieu.vn/noc-ong.html#respond Thu, 19 Apr 2018 00:58:20 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/noc-ong/ Giới thiệu
  • Nọc ong là sản phẩm của những tuyến đặc biệt trong cơ thể con ong, muốn dùng nọc ong trước đây người ta cho con ong đốt hay có khi người ta uống con ong, hiện nay người ta lấy nọc ong riêng rồi chế thành thuốc với những dạng khác nhau như nhũ dịch, dầu bôi có nọc ong, thuốc tiêm dưới da, di chuyển ion.
  • Muốn lấy nọc ong hàng loạt người ta thường kích thích con ong bằng cách giết chết một con ong, đặt trên một màng mỏng có dòng điện, khi những con ong khác đậu vào bị dòng điện kích thích sẽ đốt màng mỏng. Nọc chảy ra hứng lấy để chế thuốc.

Tính chất của nọc ong

Nọc ong là một chất lỏng rất sánh, không màu mùi rất đặc biệt na ná như mùi mật ong, vị bỏng đắng. Tỷ trọng 1,131, phản ứng acid. Trong nước có pH 5,5-5,5; trong không khí nọc ong chóng khô, lượng cao khô trong nọc ong chứng 41%. Ở dạng khô nọc ong giữ nguyên tính chất trong thời gian dài, trong dung dịch nước nọc ong bị phá hủy dần dần.

Thành phần hóa học

Thành phần hóa học của nọc ong rất phức tạp. Người ta mới biết trong nọc ong có: anbumin và chất mỡ, các hợp chất hữu xơ có trọng lượng phân tử thấp, các acid amin tự do: xystin, lysin, acginin, glycocol, alanin, methionin, acid glutamic, treonin, leuxin, isoleuxin; các acid nucleic, các acid muravic, ortophotphoric; chất béo và các chất có cấu tạo steroid, tinh dầu. Các men hialuronidase và phospholipase. Chất vô cơ magie đồng.

Tác dụng dược lý của nọc ong

  • Tác dụng dược lý có quan hệ nhiều đến melitin, làm tan máu, co các cơ trơn và cơ vân, hạ huyết áp, phong bế một đoạn thần kinh trung ương và ngoại vi, tác dụng lên thành các mạch máu, gây viêm tại chỗ.
  • Men Hialurolidase làm tan các chất căn bản của tổ chức liên kết, thúc đẩy sự lan truyền của nọc độc, ở trong da và đẩy mạnh tác dụng tại chỗ.
  • Men phospholipase phân hủy lexitin và tạo thành lisoxitin có khả năng dung giải các tế bào và làm dung huyết một cách gián tiếp.
  • Nhiệt độ cao chỉ làm phá hủy các men của nọc ong, mà không tác dụng với melitin: melitin rất vững với nhiệt độ và đối với cả acid mạnh nhưng dễ bị phá hủy trong môi trường kiềm mạnh.
  • Các nhân tố oxi hóa làm giảm tác dụng trong nọc ong, các men dung giả protein, pepsin, trypsin phong bế hoàn toàn nọc ong, phá hủy anbumin của nọc ong chứng tỏ albumin là chất có tác dụng cơ bản trong nọc ong.

Tác dụng trên cơ thể người

  • Nọc ong có tác dụng thay đổi tùy theo liều cao hay thấp, nơi bị đốt và đặc biệt cảm ứng riêng của từng cơ thể. Phụ nữ và trẻ em thường nhạy cảm đối với nọc ong hơn nam giới. Đối với người có tính cảm ứng bình thường ong đốt 1,2 lần chỉ gây phản ứng viêm tại chỗ, đối với người bị ong đốt nhiều lần như những người nuôi ong có thể xuất hiện sức đề kháng cao. Tại chỗ nọc ong thường gây đỏ, sưng, cảm giác đau, xuất hiện đột ngột, có cảm giác như bị bỏng, có thể sốt, nhiệt độ tăng hơn bình thường 2-5%. Với liều cao hơn có thể nằm liệt giường, ngay sau khi bị đốt, nạn nhân thấy chóng mặt, buồn nôn, chảy nước bọt, mồ hôi ra nhiều, rồi nôn mửa, rối loạn đường ruột, bất tỉnh nhân sự, huyết áp hạ xuống, có những dấu hiệu tan các hồng cầu.
  • Với liều gần đúng tùy theo từng người, nọc ong có tác dụng chữa bệnh, liều độc so với liều điều trị thường gấp hàng chục lần, và liều chết gấp 100 lần liều điều trị.
  • Nọc ong làm giãn động mạch và các mao quản, tăng cường sự thâm nhập của máu đến cơ quan bị thương, làm giảm đau. Đối với hệ thống tuần hoàn, nọc ong nâng cao số lượng hemoglobin, bạch cầu ở địa phương và toàn thân, tốc độ huyết trầm hạ thấp, độ nhớt và độ đông máu nhỏ hơn. Nọc ong kích thích cơ tim, hạ huyết áp, ảnh hưởng tới dinh dưỡng, đặc biệt làm giảm cholesterol trong máu.
  • Nọc ong nâng cao sức lực toàn thân và khả năng làm việc làm cho ăn ngủ tốt hơn.

Công dụng và liều dùng

  • Nọc ong được dùng có hiệu quả trong nhiều bệnh, những bệnh nặng và kéo dài, đôi khi khó chữa như sưng khớp do thấp, bệnh thấp của cơ, sưng khớp truyền nhiễm không đặc hiệu, suyễn, viêm khí quản, nhức đầu, huyết áp cao ở giai đoạn 1 và 2.
  • Tuy nhiên nọc ong không dùng được đối với bệnh lao, bệnh gan và tuyến tụy tạng, bệnh nhân kèm đái ra máu, bệnh tuyến thượng thận, suy nhược toàn thân, bệnh máu và các tổ chức tạo máu với khuynh hướng làm chảy máu. Phụ nữ có thai không điều trị bằng nọc ong. Có người dùng tiêm nọc ong phối hợp với châm cứu.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/noc-ong.html/feed 0