Tra cứu dược liệu https://tracuuduoclieu.vn Wed, 25 Feb 2026 09:35:40 +0700 vi hourly 1 Con rươi https://tracuuduoclieu.vn/con-ruoi.html https://tracuuduoclieu.vn/con-ruoi.html#respond Wed, 06 Jan 2021 09:58:37 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/con-ruoi-vt.html Mô tả con rươi

Rươi được biết đến không chỉ là một thực phẩm ngon, bổ dưỡng mà còn là một vị thuốc quý.

  • Rươi là một loại giun sống dưới nước bơi dễ dàng trong nước. Rươi trưởng thành dài 60-70mm, bề ngang chừng 5-6mm.
  • Thân hình dẹp với hơn 50 đốt màu hồng, xanh nhạt, nâu nhạt hay màu trắng. Đầu rươi tương đối nhỏ, nhưng mắt lại to.
  • Phần trước của rươi to hơn phần sau trong khi các dốt lại ngắn hơn. Cơ thể rươi rất đối xứng, lưng và bụng phân biệt rõ ràng.

Rươi sống quanh năm dưới đất, trong lớp bùn đáy sông hay trong các ruộng nước. Môi trường sống thích hợp cho rươi là nước phải thật nhạt. Khi đến thời kỳ sinh sản rươi chui ra khỏi hang, phần sau chứa đầy tế bào sinh dục đứt lìa khỏi phần trước và trôi nhanh lên mặt nước. Chúng bơi tung tăng đây đó, phóng ra vô số trứng hay tinh trùng làm cho mặt nước có màu trắng đục như sữa. Trứng tinh trùng kết hợp với nhau thành một thế hệ mới. Trong khi đó phần đầu của rươi vẫn sống dưới hang đào sâu đến 30-40cm để tái tạo phần đuôi. Phải đến 1 năm rươi mơi trở lại tình trạng cũ. Lúc đó phần sau của vô vàn con rươi, đứt ra, trôi lên mặt nước khoảng tử 10 giờ đêm đến 4 giờ sáng để hoàn thành chức năng sinh sản gọi là “hiện tượng Swarming”. Đó chính là lúc vớt rươi vì chúng nhiều vô kể nếu không rươi sẽ chết và chìm xuống đáy sông.

  • Có khoảng 500 loài rươi, được chia thành 42 chi, chủ yếu là các loài sống ở biển và nước lợ. Tên gọi phổ biến của nó theo tiếng Việt là Rươi, hay theo dân gian thì người ta còn gọi nó là rồng đất.

Phân bố và thu hoạch rươi

Ở nước ta rươi thường sống ở các vùng ven sông hoặc các cánh đồng ngập nước do nước sông tràn vào thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình.

Rươi thích hợp ở nhiệt độ khá lạnh, khoảng tháng 9 tháng 10 âm lịch, cho nên khi vớt rươi đem bán người ta phải bảo quản rươi trong nước đá để tan.

Thành phần hóa học

  • Theo phân tích của các nhà khoa học, cứ 100g rươi có chứa 81,9g nước, 12,4g protit, 4,4g lipit, 1,3g tro, cung cấp cho cơ thể 92 calo.
  • Để dễ hiểu hơn có thể so sánh thành phần dinh dưỡng của rươi với thịt bê. Trong thịt bê nạc với khối lượng tương tự có chứa 78,2g nước, 20g protit, 0,5g lipit, 1,3g tro cung cấp được 87calo.
  • Như vậy, thậm chí rươi còn chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn thịt bê nếu tính theo lượng bằng nhau.
  • Ngoài ra, trong rươi còn có chứa nhiều loại chất khoáng khác như canxi (66mg%), photpho (57mg%), sắt (1,8mg%).

Vị thuốc con rươi

  • Dược tính của món rươi phần nhiều đến từ vỏ quýt. Vỏ quýt được dùng rất phổ biến trong Đông y với tên gọi Trần bì.
  • Cũng theo Đông y, vỏ quýt có vị cay, đắng, the, mùi thơm, tính ấm. Tác dụng điều khí, hóa đờm, tiêu chảy, kém ăn, khó tiêu…

Kiêng kỵ

  • Người có bệnh hen tránh ăn rươi có thể vì rươu có chất gây nên cơn hen.
  • Đạm trong rươi rất dễ gây dị ứng, bởi vậy những người có cơ địa dị ứng hoặc đã từng dị ứng khi ăn hải sản không nên ăn rươi.
  • Những người đã từng một lần bị ngộ độc rươi, không bao giờ nên ăn tiếp món này lần hai. Vì ngộ độc lần sau bao giờ cũng nặng và nguy hiểm hơn lần trước, rất nguy hiểm.
  • Bà bầu không nên đụng tới món này vì có thể gây khó tiêu, sình bụng, không có lợi cho tiêu hóa. Ảnh hưởng không tốt đến em bé.

Tham khảo:

Cách chọn rươi ngon?

Rươi còn tươi ngon là những con lớn, thân mập mạp, màu đỏ, còn ngọ nguậy. Kinh nghiệm mua rươi tươi, mới là chỉ lấy những con còn khỏe ở phía trên, vì đa số rươi phía dưới thường bị đè vỡ bụng, có mùi tanh.
Rươi sắp chết là những con nhỏ, gầy, có màu xanh, bò yếu hoặc lâu lâu mới ngọ nguậy. Chú ý, khi rửa rươi chỉ cần thả rươi vào chậu nước, dùng tay đẩy nhẹ để rươi khỏi bị vỡ bụng. Rửa chừng ba lần cho sạch bớt bùn, rác.

  • Rươi sạch vớt ra để ráo nước, chuẩn bị “làm lông” để khi ăn không bị ngứa rát cổ. Dùng nước nóng chừng 40 độ C, thả rươi vào, dùng đũa khuấy nhẹ. Khi thấy bùn, chân và lông rươi rụng, nổi lên thì vớt rươi ra và chế biến món ăn.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/con-ruoi.html/feed 0
Con Cóc https://tracuuduoclieu.vn/con-coc.html https://tracuuduoclieu.vn/con-coc.html#respond Tue, 26 Mar 2019 01:40:17 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=30118

Mô tả

  • Thân ngắn. Đầu có hai mắt to, lồi, mõm ngắn tù, miệng rộng, bụng phình to.
  • Da khô, sần sùi với những mụn to nhỏ xen kẽ, hai tuyến lớn ở trên mắt; trong mụn và tuyến có chất nhựa độc. Hai chân sau dài và chắc hơn hai chân trước.
  • Lưng màu vàng xám hoặc xám đen, các mụn cóc thường sẫm màu. Cóc đực nhỏ hơn cóc cái.
  • Loài cóc rừng (Bufo galeatus Gunther) sống ở miền núi cũng được dùng.

Phân bố, sinh thái

Cóc là loài lưỡng thê, có thể sống được ở trên cạn và dưới nước, phân bố chủ yếu ở châu Á. Ở Việt Nam, cóc sống khắp nơi, những chỗ ẩm ướt như ruộng, nương, hốc đá, khe tường… Sau những trận mưa, cóc nhảy ra khỏi hang rất nhiều, đi kiếm ăn từ xẩm tối. Thức ăn của cóc gồm châu chấu, gián, mối, kiến, giun đất, ếch nhái, ruồi, nhặng, muỗi.

Cóc đẻ vào tháng 11 – 6, trứng nổi nổi thành nòng nọc, sống trong nước, rồi rụng đuôi, mọc chân thành cóc. Cóc rất có ích cho nhà nông. Thường bắt cóc vào mùa hè.

Bộ phận dùng

Thịt cóc có tên thuốc trong y học cổ truyền là thiềm thừ, phơi hay sấy khô là can thiềm;

Nhựa cóc là thiềm tô, có tên khoa học là Secretio Bufonis.

Cách chế biến thịt cóc:

Chọn những con cóc to, da vàng hoặc đen, loại bỏ những con có mắt đỏ (theo kinh nghiệm nhân dân). Dùng dao sắc cắt bỏ đầu (từ hai mắt trở lên), rạch một đường dọc theo sống lưng, lột hết da (cần hết sức thận trọng, tránh làm vỡ các tuyến nhựa độc), rồi mổ bụng, cắt bỏ ruột, gan, phổi và trứng, chặt bỏ bốn bàn chân. Rửa nước nhiều lần cho thật sạch và lần cuối cùng rửa bằng nước nóng có pha muối với tỷ lệ 0,9%. Sấy khô.

Cách lấy nhựa cóc:

Cho cóc vào giỏ tre, dội nước nhiều lần để rửa sạch đất cát bám trên mình cóc. Đợi cho da khô, bắt cóc giữ chặt, dùng nhíp để lên những tuyến nhựa, nhất là tuyến ở trên mắt, hoặc dùng que tre kích thích vào tuyến nhựa. Cũng có thể buộc cóc nằm sấp trên môt mảnh ván, dây uét vào lưng, đầu cho các tuyến mủ chướng lên. Dùng miếng mo cau nhóc vào các tuyến. Nhựa sẽ chảy ra, hứng vào đĩa sứ hoặc cho vào lọ nhỏ, phơi hay sấy khô. Người ta tính mỗi con cóc 1kg nhựa cóc, phải dùng đến 20.000 – 30.000 con cóc. Nhựa cóc là một chất nhầy màu trắng như sữa, để khô thì đóng vảy màu nâu vàng.

Ở Việt Nam, việc thu hoạch nhựa cóc chưa được tổ chức quy mô, mà lẻ tẻ trong nhân dân ở một số ít ngưồn tư liệu y dược sử dụng.

Cóc không độc, nhưng cóc cái và toàn bộ gan, ruột, trứng đều rất độc vì chứa nhựa cóc. Nhựa cóc dính vào nội tạng nếu liên tục sẽ gây rộp da, rối loạn tiêu hóa; nếu ăn nhầm dễ bị ngộ độc dẫn tới chết. Nếu nhựa độc dính theo dao giang tay để bảo vệ da. Nếu để nhựa cóc dây vào mắt, nhựa sẽ làm hỏng mắt và có thể gây tổn thương. Nhựa cóc dính vào thịt dễ làm cho người ăn thịt cóc bị nhiễm độc dẫn đến thiệt mạng. Nguy hiểm hơn là đối với những bàn tay bị xây xát, thương tổn, nhựa cóc dính vào sẽ chà chất độc ngấm thẳng vào máu, tác dụng trực tiếp và rất nhanh (ăn cóc, trứng cóc cũng đã gây độc cho một số người ăn nhầm phải).

Dược điển Đông y Trung Quốc phân biệt và xác định thiềm tô như sau: Do cách gia công khác nhau mà thiềm tô có hình khối tròn dẹt, hình bánh, hình phiến hoặc hình quăn có. Mặt ngoài sáng bóng, đỏ thẫm không phẳng mà nhăn van, màu vàng nhạt, đỏ tía hay đen nâu. Thứ kết thành khối hay thành hình thì cứng chắc, khó bẻ gãy. Mặt bẻ cắt ngang mà màu chè, chất quả như keo, có ánh. Thứ hình phiến thì giòn, dễ bẻ gãy, màu nâu đỏ, nâu trong suốt, hơi có mùi tanh, ngửi làm hắt hơi, vị cay, gặp nước sẽ nứt bọt và loang ra thành dịch sữa màu trắng.

Thiềm tô còn được bảo chế sao tẩm với rượu trắng để được tiêu thiềm tô hoặc sữa bò tươi để được nhũ thiềm tô.

Thành phần hóa học

Thịt cóc chứa 53,3% protid, trong đó, nhiều acid amin có giá trị như histidin, tyrosin, methionin, leucin, phenylalanin, cystein… 12,6% lipid, các vitamin B₁, B₂, các muối sắt, phosphor, calci. So với các loại thịt cao cấp như bò, lợn, gà thì thành phần dinh dưỡng của thịt cóc không kém.

Nhựa cóc chứa cholesterol, acid ascorbic và những chất rất độc như bufotoxin, bufotalin, bufotenin, bufoemodin và nhiều chất khác. Các nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây đã tách được chất cynobufagin từ nhựa cóc.

Tính vị, công năng

Thịt cóc có vị mặn, ngọt, tính mát, có tác dụng bổ bổ sức khoẻ, nhất là đối với trẻ em, tiêu độc.

Nhựa cóc có vị ngọt, cay, tính ấm, có độc, vào kinh vị, có tác dụng bổ dưỡng, chống đinh sang, co giật, thanh nhiệt.

Công dụng

Thịt cóc ăn ngon và đậm hơn thịt ếch, lại có giá trị dinh dưỡng rất cao, là một vị thuốc bổ rất tốt cho trẻ em: chữa kém ăn, gầy còm, cam nhôm, cam mắt, bụng ỏng, đi tướt, chậm lớn, chậm biết đi. Dạng dùng thông thường là món ăn; vị thuốc như thịt cóc hấp nồi rim, làm nước hoặc hầm nhừ làm chả, tráng trứng ăn với cơm hằng ngày. Có nơi, người ta chỉ dùng da cóc.

Dùng làm thuốc, lấy thịt cóc đã chế biến đúng quy cách, chặt nhỏ, sấy khô giòn rồi tán bột. Trứng gà đã luộc chín, bóc lấy lòng đỏ, sấy khô, tán bột. Ba, bốn miếng vỏ quả chuối ngự cũng phơi khô, tán bột. Trộn đều ba thứ bột, luyện với mật làm thành viên. Mỗi viên gồm 1g bột cóc, 0,2g lòng đỏ trứng và 1,4g vỏ chuối. Trẻ em từ 1 đến 3 tuổi, mỗi ngày uống 3 – 9 viên chia làm 3 lần; từ 4 tuổi trở lên, tăng dần liều lượng cho thích hợp (Kinh nghiệm của ông Nguyễn Trọng Cầu – Viện Y học cổ truyền).

Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng cóc bọc trong đất sét, nung cho cháy khô, lấy ra, bỏ đất, tán cóc thành bột, lấy 10g trộn với hoàng liên (10g), thanh đại (4g), xạ hương (1g) đã tán thành bột, xát vào chỗ lở loét chữa cam râu má. Hoặc lấy 2 con cóc đã bỏ da và phủ tạng, thái nhỏ cùng với 4g sâm nhân hoặc hồ tiêu, nhồi vào dạ dày lợn, nấu chín, rồi bỏ cóc đi, ăn hết trong ngày để chữa thuỷ thũng.

Thuốc cam tằm mà của cụ Lê Bá Cơ – Thanh Hoài là gồm cóc vàng (1 con), phèn chua sống (20g). Lấy men chua đập nát cho vào bụng cóc (đã chế biến bỏ da và các bộ phận bên trong), đựng đặt trên vôi giã nhỏ và nấu bọc kín cóc một lớp dày 3 – 5cm. Đem vào lò than, nướng trong 1 giờ 30 phút, đến khi đặt lên cóc thấy vỡ mềm thì lấy ra. Để nguội, đập bỏ lớp vôi, lấy phần tán nhỏ, rây bột, dùng dần làm thuốc. Khi dùng, lấy bột thuốc xát vào răng lợi bị kết sạn đã rửa sạch bằng nước muối.

Có thể chế cao cóc chữa mụn nhọt với các dược liệu khác theo cách làm sau: Cóc vàng (1 con) bọc đất, đốt tồn tính, rồi lấy ra, tán bột. Củ ráy dài (100g), củ nghệ vàng (50g), cao sắn vò, thái mỏng, cho vào dầu vừng (500ml), đun sôi đều khi các dược liệu quắt lại thì vớt ra, tiếp tục cho sáp ong (30g) khuấy cho tan. Sau cùng, cho bột cóc và nhựa thông (vừa đủ) để được một khối cao sền sệt. Để nguội, phết thuốc lên từng miếng giấy nhỏ. Khi dùng, hơ nóng thuốc, đắp vào chỗ sưng đau.

Để chữa mẩn ngứa, ở một số địa phương, người ta nấu cháo thịt cóc và thịt rắn nước ăn hằng ngày.

Nhựa cóc được dùng để chữa một số bệnh hiểm nghèo. Thông thường có biệt dược “Lục thần hoàn” chứa sốt cao, trúng độc, mê man, co giật. Thuốc gồm nhựa cóc (1g), xạ hương (1g), ngưu hoàng (1,5g), hùng hoàng (1g), trân châu (1,5g), băng phiến (1,5g) và được bào chế theo cách sau: Nhựa cóc ngâm với ít rượu và tán nhỏ, rây đều với các dược liệu đã tán thành bột mịn để được một khối đồng nhất, rồi làm viên nhỏ bằng hai cái bao ngựa bằng bồ hóng bếp (hạch thảo sương). Ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 5 – 10 viên.

Phụ nữ có thai không được dùng nhựa cóc.

Theo tài liệu nước ngoài, chất cynobyfagin, chiết được từ nhựa cóc, có tác dụng lên tim mạch tốt hơn digitalin (hoạt chất của cây dương địa hoàng – Digitalis purpurea L.) vì không tích lũy. Nó còn có khả năng giải đọc do barbituric, giảm biến chứng sốc trong trường hợp bị bỏng nặng hoặc có tác dụng điều trị u ác tính.

Mật cóc ít được sử dụng. Nhưng để chữa mụn nhọt, đôi khi người ta lấy mật cóc trộn với cao mềm bồ cu vẽ và nghệ vàng làm thành cao dán mà dùng. Kết quả khỏi bệnh đạt hơn 50%.

Nguồn: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/con-coc.html/feed 0
Sam https://tracuuduoclieu.vn/sam.html https://tracuuduoclieu.vn/sam.html#respond Wed, 02 May 2018 00:15:16 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/sam/ Mô tả con vật và điều kiện sống
  • Sam là một động vật sống ở vùng biển, ven bờ, trong các vịnh, đầm nước mặn, đặc biệt ở các cửa sông trên đất bùn lầy thoai thoải. Con lớn nhất dài tới 0,90m. Chúng bơi rất chậm và bò như cua. Hai loài sam phổ biến ở bờ biển nước ta là Tachypleus trídentatus và Carcinos corpius rotundicauda. Sam thường sống ở độ sâu 4-10m. Môi trường sống của sam là nhiệt độ 20-32°C. Độ mặn khoảng từ 18 đến 33%.
  • Bắt đầu từ tháng 4, sam bơi vào bờ đẻ trứng, đến cuối tháng 7 sam quay xuống biển. Sam đực dùng hai đôi chân đầu tiên bám chặt vào lưng con cái, sam cái dùng đôi chân sau đào một lỗ sâu khoảng 15cm trên bãi cát và vùi vào đất khoảng 200-1.000 trứng tùy theo từng loài.
  • Ở loài sam còn duy trì khả năng thụ tinh bên ngoài, nghĩa là sam đực phóng tinh vào trứng trong các lỗ ở trên bài cát để thụ tinh. Trứng sam có kích thước 1,5- 3mm và chứa nhiều lòng đỏ. Trứng phát triển trong cát và được nước biển vỗ hàng ngày. Sau 6 tuần, trứng nở thành ấu trùng có kích thước khoảng 5 mm và không có đuôi. Trải qua 3 giai đoạn phát triển, ấu trùng lớn thành sam con có đuôi ngắn, rồi đuôi dài và lúc này giống hệt như sam trưởng thành nhưng có kích thước bé hơn rất nhiều. Sau 16 lần lột xác, sam con phát triển thành sam trưởng thành và có khả năng cho 1/3 lượng máu cơ thể. Thức ăn của sam là những loài giun nhiều tơ, các loài tôm cua thuộc lớp giáp xác có nhiều ở các cửa sông, và đầm lầy ven biển.

Trong Y học cổ truyền, Tuệ Tĩnh (thế kỷ 17) đã dùng vỏ sam chữa:

  • Gà lên đậu, sởi: Mai con sam 1 cái. Đốt tán bột, rau mùi một nắm. Hòa với nước sức vào da, lấy nước trộn đều cho uống, bả đắp vào chỗ đau (Nam dược thần hiệu).
  • Chữa rong huyết khi có thai: Mai sam nướng vàng, bè nhỏ tán bột uống hoặc bẻ nhỏ sắc uống. Ngày dùng 4-6g mai sam.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/sam.html/feed 0
Rết https://tracuuduoclieu.vn/ret.html https://tracuuduoclieu.vn/ret.html#respond Fri, 27 Apr 2018 01:34:17 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/ret/ Rết 1

Hình ảnh con rết 

Nguồn gốc

  • Ta dùng con rết lớn, nhiều chân, thân dẹt, dài 7-13cm, thường gồm chừng 20 đốt, mỗi đốt có 1 đôi chân. Đốt cuối cùng 22 chân biến thành hai cái đuôi. Đầu rết có hai râu dài, răng nhọn sắc cắn đau và có chất độc, khi bắt cần chú ý.
  • Vào các tháng 4-5 đẻ trứng, mỗi con đẻ chừng 20-30 trứng, ít lâu sau nở thành rết con, lúc đầu có màu trắng, sau lột xác thành rết lớn màu nâu. Con rết sống hoang ở dưới những khúc gỗ mục, các hòn đá, mái nhà mục nát.
  • Hiện nay nhân dân ta chỉ bắt những con sống hoang. Tại Trung Quốc, do nhu cầu lớn, đã đặt vấn đề nuôi rết dùng trong nước và xuất khẩu rết, chọn những con to béo là tốt.

Thành phần hoá học

Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản, trong con rết có hai chất độc gần giống chất độc ởnọc ong, có tính chất phá huyết. Ngoài ra còn có các loại amin. Ở Trung quốc có người đã nghiên cứu, nhưng cũng chỉ nghiên cứu mới thấy có 4,45% tro và 70,20% protit. Như vậy hoạt chất hiện nay chưa rõ.

Tác dụng dược lý

Bộ môn dược liệu Trường đại học dược khoa có phối hợp cùng các đồng chí Rumani công tác ở bộ môn năm 1959 và các đồng chí Rumani ở Viện vi trùng hồi đó, để thử tác dụng diệt trùng nhưng chưa đi đến kết quả gì trong phòng thí nghiệm.

Công dụng và liều dùng

Tính theo vị đông y: vị cay, tính ôn, có độc vào kinh can. Tác dụng khử phong, trấn kinh giản, giải độc của rắn. dùng chữa hàn nhiệt tích tụ trong bụng, truỵ thai, trừ ác huyết, trị sàng nhọt, còn dùng ở phạm vi nhân dân. Tại một đơn vị quân y (1959) có báo cáo dùng rượu rết bôi lên các mụn nhọt đau nhức rất chóng khỏi (hội nghị dược chính quân y 1960). Theo các tài liệu cổ và thực tế sử dụng trong nhân dân, con rết dùng chữa các bệnh sau đây:

  1. Chữa sàng trĩ đau nhức: ngô công bỏ đầu, chân sấy khô, tán nhỏ, hoà ít long não, thêm ít nước hay rượu bôi hàng ngày.
  2. Chữa mụn nhọt sưng đỏ, đau nhức: rượu rết (cả con cho vào rượu 90o) bôi lên mụn nhọt. Bắt 6 con rết cho vào lọ, đổ dầu vừng vào ngâm vài tháng. Lấy bông thấm thuốc này bôi lên các mụn nhọt, chỗ bị sâu, trùng độc cắn sẽ hết đau.
  3. Chữa liệt thần kinh mặt, đau nhức, tê thấp, kinh phong, co giật, cấm khẩu: Rết tán bột mịn, trộn với bột cam thảo (Lượng bằng nhau). Ngày uống 0,5 g chia làm 3 lần. Chú ý khi dùng phải theo đúng liều lượng quy định.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/ret.html/feed 0
Thạch sùng https://tracuuduoclieu.vn/thach-sung.html https://tracuuduoclieu.vn/thach-sung.html#respond Thu, 26 Apr 2018 21:46:47 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/thach-sung/ Mô tả con vật
  • Thạch sùng có nhiều loại. Người ta thường dùng tất cả những con có màu trắng bắt được trên tường và trần nhà.
  • Thông thường nhất có con thạch sùng Hemidactylus frenatus Schlegel. Con này toàn thân (cả đuôi) dài chừng 8-12cm, trông giống con tắc kè hay con thằn lằn nhưng nhỏ hơn, mắt dọc, lưỡi dài hay thè ra khỏi miệng để bắt những con sâu bọ nhỏ như ruồi, muỗi, nhện mà ăn. Thân nhẵn hay hơi có vảy rất nhỏ; lưng màu tro hay tro vàng, bụng màu trắng hay vàng trắng 4 chân có những màng dính để bám chắc trên tường mà đi; đuôi dài có thể đứt rồi lại mọc lại sau một thời gian.

Phân bố, thu bắt và chế biến

  • Con thạch sùng sống hoang khắp nơi ở những vùng nhiệt đới. Miền nam Trung Quốc cũng có và cũng được dùng làm thuốc. Vào mùa hè, khi ta thắp đèn thường thạch sùng xuất hiện, dùng tay mà bắt. Có khi người ta dùng sống, nhưng cũng có thể sấy khô để dành dùng dần.
  • Tại Trung Quốc người ta thường dùng thạch sùng sấy khô. Ở nước ta hay dùng sống; khi bắt được dùng uống ngay. Dùng toàn con, cả ruột; chú ý bảo vệ lấy đuôi. Nếu bảo quản, cần giữ nơi thật khô ráo vì rất dễ sinh sâu mọt. Nên để trong hộp kín có đựng vôi sống. Khi vôi tả rồi lại thay vôi khác.

Thành phần hóa học

  • Năm 1970, Trần Huyền Trân đã chiết được từ thạch sùng một loại chất béo với tỷ lệ 11,92% trong con non, 15,38% trong con đực trưởng thành và 15,97% trong con cái trưởng thành. Chất béo này có chỉ số iốt 61
  • Bằng sắc ký lớp mỏng so sánh với mẫu, đã thấy trong chất béo có lexitin, lyzolexitin, sphingomyelin và xephalin, cardiolipin, photphatidyl serin và photphatidylinontola. So sánh bản sắc ký của chất béo chiết ở thạch sùng với chất béo chiết ở tắc kè thì thấy hai loại chất béo này cho những vết ở những Rf rất giống nhau. Tác giả đã đi đến kết luận hy vọng có thể dùng thạch sùng thay cho tắc kè trong một số trường hợp và trên thực tế nhân dân cũng đã dùng tắc kè và thạch sùng để điều trị một số bệnh tương tự (Luận án tốt nghiệp dược sĩ cao cấp, 1970, Hà Nội).

Công dụng và liều dùng

  • Thạch sùng còn là một vị thuốc dùng trong nhân dân. Có thấy ghi trong các sách cổ như trong bộ “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân (thế kỷ thứ 16). Trong bộ “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh “Việt Nam, thế kỷ 17”, cũng thấy ghi ở mục loài có vảy (.Lân bộ) dùng làm thuốc với tên thủ cung. Tính chất ghi trong các sách cổ như sau: Vị mặn, tính hàn, hơi có độc, vào 2 kinh tâm và can. Có tác dụng trừ phong, chữa đau các khớp xương, trúng phong (cảm gió), trị cam lỵ trẻ con và tiêu hòn cục (báng), kinh giản, tràng nhạc, rắn rết cắn.
  • Trên thực tế ở Việt Nam thường chỉ thấy dùng chữa bệnh tràng nhạc (lao hạch) bằng cách bắt thạch sùng cho vào chuối mà nuốt sống. Liều dùng hằng ngày: Mỗi ngày 1 hay 2 con.
  • Nhân dân Trung Quốc dùng thạch sùng dưới hình thức phơi hay sấy khô tán bột mà uống chữa mụn nhọt, thần kinh suy nhược, bệnh về dạ dày và ruột, tiêu hóa kém, kém ăn, bán thân bất toại, viêm khớp mãn tính, đau thần kinh, nhức đầu kinh niên mà không rõ nguyên nhân. Chú ý nghiên cứu.

Chú thích:

Ngoài loại thạch sùng H. Frenatus nói trên ta còn dùng cả con Hemidactylus korenorum và một số hemidaciylus khác; tại Trung Quốc người ta còn dùng các con Gecko chirnensis Gray, Gecko japonicus Dumeril et Bibron thuộc cùng họ.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/thach-sung.html/feed 0
Nước tiểu https://tracuuduoclieu.vn/nuoc-tieu.html https://tracuuduoclieu.vn/nuoc-tieu.html#respond Thu, 19 Apr 2018 01:09:54 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/nuoc-tieu/
  • Còn gọi là đồng tiện, nhân niệu, luân hồi tửu, hoàn nguyên thang. Tên khoa học Urina Hominis.
  • Trong những tên khác nhau tên đồng tiện chỉ dành chỉ nước tiểu của trẻ em thường là của trẻ em trai, dưới 12 tuổi, mạnh khỏe.
  • Nhưng trong những tài liệu cổ, ngoài nước tiểu trẻ em ra, người ta dùng cả nước tiểu người lớn với tên nhân niệu (nước tiểu của người lớn).
  • Rồi vì không coi nước tiểu của người lớn là chất cặn bã do người thải ra, mà là vị thuốc quý nếu biết dùng nên mới gọi là luân hồi tửu (thứ rượu uống vào, thải ra lại uống vào), hoàn nguyên thang (thang thuốc đưa trở về cội nguồn).
  • Hiện nay chúng ta đã biết nước tiểu không hoàn toàn là chất thải, chất cặn bã của chuyển hóa, mà nước tiểu được hình thành từ máu khi qua hai quả thận, rồi chuyển vào niệu quản và xuống bọng đái. Trong 24 giờ, hai quả thận lọc được từ máu 180 lít nước (gấp 3 lần trọng lượng cơ thể 50kg). Nếu không đưa lượng nước ấy (trong đó có chất muối và nhiều chất khoáng vô cùng cần thiết cho cuộc sống của con người) thì con người sống sao nổi. Cho nên một phần lớn nước đó được đưa trở lại nuôi cơ thể, còn một phần thải ra dưới dạng nước tiểu, mồ hôi…
  • Thành phần hóa học

    • Do nước tiểu từ máu lọc ra, mà máu đi khắp cơ thể nên trong nước tiểu có đủ các chất do các cơ quan máu đã đi qua bài tiết ra đồng thời có những chất cặn bã của chuyển hóa. Thành phần nước tiểu thay đổi từ cá nhân này sang cá nhân khác. Trong cùng một cá nhân thành phần nước tiểu sáng chiều, lúc no đói, mùa nóng mùa lạnh cũng khác nhau. Cho nên phân tích nước tiểu người ta có thể kết hợp với những kết quả xét nghiệm khác để đánh giá sức khỏe, tiến triển bệnh tật của người cho nước tiểu đó. Khi theo dõi thành phần hóa học của nước tiểu, không những cần biết có những chất gì mà phải biết số lượng chất đó nữa. Ví dụ trong máu có urê nhưng hàm lượng urê trong máu chỉ 0,2g/lít, còn hàm lượng urê trong nước tiểu là 15-25g/lít (100 lần cao hơn) và urê là cặn bã chính của chuyển hóa protit. Đường trong máu và nước tiểu đều có thể có nhưng rất ít không đáng kể (0,01 -0,15g/Iít). Nhưng khi bị đái tháo đường hàm lượng đường trong nước tiểu rất cao.
    • Từ rất lâu đời nhân dân nhiều nước phương Tây, cũng như phương Đông (trong đó có nhân dân Việt Nam) đã biết và ghi lại thành tài liệu những kinh nghiệm sử dụng nước tiểu chữa nhiều bệnh. Chính là ông cha ta đã biết sử dụng những thành phần khác nhau của nước tiểu, kể cả những chất cặn bã, ví dụ như urê. Chỉ gần đây chúng ta mới biết trong nước tiểu có urê, mà urê có tác dụng lợi tiểu. Trước đó ông cha ta chỉ biết nước tiểu có tác dụng chống phù nề cho phụ nữ sau khi sinh nở.
    • Chúng ta biết trong nước tiểu có những chất như urê, axit uric, axit hipuric, creatinin, kiềm puric, axit amin, axit béo, các chất nội tiết (hocmon), vitamin và các men… Nhờ biết thành phần hóa học và tác dụng những thành phần ấy có trong nước tiểu, chúng ta đã giải thích được nhiều công dụng của nước tiểu dùng theo kinh nghiệm của cha ông, nhưng cũng còn nhiều công dụng của nước tiểu thấy ghi trong những sách cổ mà chúng ta chưa giải thích được cũng như chưa có điều kiện kiểm tra. Đó là những công việc của người có kiến thức của khoa học hiện đại muốn thừa kế những kinh nghiệm của người xưa.

    Công dụng và liều dùng

    • Theo y học cổ truyền, nước tiểu vị mặn, tính hàn (lạnh), không độc. Có tác dụng chữa hàn nhiệt, đầu thống (đầu đau nhức), ấm khí (ôn khí), ho lâu mất tiếng, chủ yếu dùng chữa các chứng sốt rét, nhức đầu, cầm máu, bổ âm, giáng hỏa, dùng ngoài xoa bóp khi bị ngã hay bị thương, bị đánh người thâm tím.
    • Còn dùng sao tẩm, bào chế một số vị thuốc như hương phụ tứ chế (hương phụ ngâm dấm, rượu, muối, nước tiểu). Ngày uống 100 đến 200ml, lúc đang còn ấm.
    • Tây y không dùng.

    Đơn thuốc có nước tiểu dùng trong nhân dân:

    1. Chữa sưng mộng răng chảy máu: Ngậm đồng tiện (Thánh huệ phương).
    2. Phụ nữ sau khi đẻ, gầy yếu, ho, sốt, thổ huyết: đồng tiện còn nóng ấm, ngày uống 200ml. Liên tiếp uống trong một tháng.
    3. Đồng tiện còn dùng để tẩm và bào chế một số vị thuốc hay dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác mà uống.

     

    ]]>
    https://tracuuduoclieu.vn/nuoc-tieu.html/feed 0
    Nước bọt https://tracuuduoclieu.vn/nuoc-bot.html https://tracuuduoclieu.vn/nuoc-bot.html#respond Thu, 19 Apr 2018 01:08:49 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/nuoc-bot/ Nguồn gốc
    • Từ thời cổ còn lưu truyền đến chúng ta ngày nay một phương pháp dưỡng sinh như sau: Sáng sớm dậy, sau khi súc sạch miệng bằng nước đun sôi để nguội, ngậm môi, đưa lưỡi liên tục 10 lần lên xuống và sang hai bên trong khoang miệng rồi dùng đầu lưỡi chống lê lên vòm miệng, chờ cho nước bọt ứ ra đầy miệng thì súc súc chừng 5-10 lần, rồi nuốt số nước bọt ấy xuống bụng, chia làm ba lần, mà khi nuốt phải hết sức từ từ. Mỗi ngày làm như vậy hai lần. Nếu chịu làm như vậy trong nhiều tháng thì cơ thể lâu già, nhan sắc tươi đẹp.
    • Theo y học cổ truyền phương đông thì nước bọt thuộc loại tân dịch mà tân dịch có sự kết hợp tinh tuý nhất giữa nước và ngũ cốc. Tân dịch là chất bổ dưỡng đối với cơ thể làm cho da mềm mại, tăng tính đàn hồi, bôi trơn các khớp xương, bổ dưỡng não và tuỷ sống, thông khiếu làm cho sáng mắt hay nói cách khác nước bọt đóng vai trò quan trọng đối với sự sống (dưỡng sinh) và sức khoẻ của con người. Y học hiện đại đã phát hiện vai trò quan trọng của nước bọt đối với mọi hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể con người. Nước bọt là hỗn hợp chất lỏng do tuyến nước bọt trong khoang miệng tiết ra. Mỗi ngày, một người lớn bình thường tiết ra khoảng 1.000-1.500ml nước bọt.

    Vai trò nước bọt trong cơ thể

    1. Trước hết nước bọt đóng vai trò hàng rào diệt khuẩn phòng bênh: Những bệnh tật qua đường miệng vào cơ thể ta (bệnh tòng khẩu nhập) gặp nước bọt ở khoang miệng lập tức bị các chất bacteriolysine trong nước bọt hoà tan và phân giải. Như vậy nước bọt là chất sát khuẩn và làm sạch khoang miệng không cho các vi khuẩn gây bệnh và các tạp chất độc hại khác dễ dàng vượt qua được hàng rào bảo vệ chặt chẽ này trước khi xâm nhập vào cơ thể.
    2. Nước bọt tăng khả năng hấp thụ tiêu hoá thức ăn: Khi ta ăn cơm và thức ăn, hai hàm răng phải nghiền nát cơm và thức ăn, đồng thời nước bọt tiết ra. Càng nhai kỹ, thức ăn càng được nghiền nhỏ, nước bọt càng được tiết ra nhiều, những chất men có trong nước bọt sẽ giúp cho sự tiêu hoá cơm và thức ăn được tiến hành một phần lớn trong khoang miệng. Do vậy con người có thể chủ động nhai lâu, giúp cho bộ máy tiêu hoá được làm việc ít hơn là một điều rất cần thiết đối với người bị viêm loét dạ dày và hành tá tràng.
    3. Nước bọt là một vị thuốc cầm máu thần diệu, mau làm lành vết thương: Trong sinh hoạt hàng ngày, khi trên da xuất hiện, nổi mụn nhọt, hoặc xây sát, đứt tay, chảy máu, trong dân gian thường có thói quen quệt nước bọt lên chỗ đau hay chảy máu. Trong gia đình nếu có chăn nuôi gia súc, mỗi khi chúng bị thương, chúng ta cũng thấy con vật dùng lưỡi liếm lên vết thương của chúng. Làm công việc ấy, chúng nhằm mục đích gì? Tiến sĩ Stanley Cohen nhà khoa học Mỹ nổi tiếng đã từng được nhận giải thưởng Noben về sinh lý đã phát hiện nguyên nhân của bí mật này: Trong nước bọt động vật có chứa “một yếu tố sinh trường bền bỉ” có tác dụng tái tạo và nhân số lượng tế bào da. Ngoài ra S. Cohen còn phát hiện trong nước bọt còn chứa một lượng nhỏ các chất có hoạt tính sinh học khác như “yếu tố sinh trưởng thần kinh” có tác dụng kích thích sự phân hoá và tái tạo tế bào thần kinh cảm giác và thần kinh giao cảm.
    4. Trong nước bọt có chất chỉ thị có thai và phân biệt giới tính của thai nhi: Các chuyên gia hoá sinh thuộc trường Đại học Thesus châu úc (Australia) đã tìm ra phương pháp hoá nghiệm nước bọt hết sức đơn giản để xác định thời kỳ rụng trứng của phụ nữ. Căn cứ của sự phát hiện này, dựa trên sự phát hiện ở người phụ nữ 5 ngày trước khi rụng trứng và 6 ngày sau khi rụng trứng hàm lượng đường (glucose) trong nước bọt tăng lên đột biến. Rồi căn cứ biết được rằng thai nhi trong bụng mẹ từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 7 đo giới tính khác nhau nên nhau thai cũng tiết ra các hormon khác nhau. Hormon này có cả ở trong nước bọt của người đang mang thai, cho nên khi thí nghiệm nước bọt có thể giúp ta biết rõ thai nhi đang nằm trong bụng mẹ là trai hay gái.
    5. Các chuyên gia hoá sinh còn phát hiện sự thay đổi thành phần nước bọt có quan hệ mật thiết với bệnh tật: Từ trên cơ sở phát hiện này các nhà nghiên cứu đang tìm những phương pháp xét nghiệm nước bọt để chẩn đoán bệnh kể cả đối với những người nhiễm HIV/AIDS.

    Công dụng và liều dùng

    Từ cuối thế kỷ 16 (1595) tính chất và công dụng nước bọt đã được Lý Thời Trân ghi trong bộ sách “Bản thảo cương mục” của mình như sau: Nước bọt vị mặn, tính bình, không độc. Dùng chữa mụn nhọt sưng đau, ghẻ lở, phỏng da, còn có tác dụng làm sáng mắt, phá tan các màng mộng, giải độc, trừ tà độc và ngộ độc vì thuỷ ngân. Trong sách còn ghi thêm: Muốn có nước bọt tốt thì sáng sớm thức dậy chưa ăn uống gì, chưa nói gì dùng nước bọt mới tiết ra bôi ngay lên mụn nhọt.

    Đơn thuốc dùng nước bọt trong nhân dân

    1. Cô B. M. L. ở Lạc Long Quân phường 1, quận 1., tp. Hồ Chí Minh bị lên một cái nhọt bằng hạt bắp ở phía trái dưới má, xung quanh bầm đỏ, đau. Khám bác sĩ bảo bị nhiễm trùng, cần mổ khoét di và lấy miếng da ở đùi đắp vào để không có sẹo. Chi phí dự tính khoáng 1 triệu đồng. Ông ngoại về chơi bảo cháu mỗi buổi sáng lấy nước miếng (nước bọt) bôi vào, xoa nhẹ vài ba lần. Cô B. M. L. làm theo ông khoảng 1 tuần lễ, nhọt tự tiêu không để lại dấu vết gì. Tin này đăng trên tạp chí Sống vui khoẻ số 2 (12-1994).
    2. Cũng trên tạp chí đó số 10 (phát hành tháng 5-1995) có bài “Nhân đọc bài Giản dị mà giá trị cao bày cách trị mụn mọc ở má của một thanh niên 20 xuân xanh thần tình, tôi liên tưởng đến bệnh mình và tự nhủ: Mụn mọc ở má đã lành thì u thịt trên mi mắt cũng có thể áp dụng được chớ sao? Ta cứ vững lòng tin thực hiện. Khi thức dậy, tôi liền rửa tay rất sạch và lấy nước miếng thoa nhẹ trên mụn khắp chiều dài. Sáu, bẩy ngày qua, thấy mụn dừng phát triển, nhỏ lại và hơi cứng, đồng thời có một chỗ cứng hơn, màu đỏ xậm (một đêm ngày tôi thoa trên mụn 5-6 lần nước miếng). Đến đêm thứ 9, tôi ngủ dậy thì thấy mụn rụng mất từ vết đỏ đó, chỉ còn lại vết mụn cũ không đáng kể, không có gì vướng nữa. Tôi rất sung sướng phổ biến cách chữa này cho gia đình, bạn bè, . . và thành thực cảm ơn tạp chí đã giúp cho tôi vừa tự chữa lại không tốn tiền, tốn sức thật tuyệt vời”.
    3. “Tôi có 3 mụn nhỏ cương mủ ở phía sau đầu gối, tôi cũng bôi nước miếng, 3 ngày khô và lành hẳn (NTD phòng 20 khu tập thể Vãn Chương, Hà Nội). Ngay từ cuối thế kỷ XVI (1595) nước miếng đã được nhà dược liệu học nổi tiếng Lý Thời Trân ghi trong bộ sách “Bản thảo cương mục” của mình như sau: Nước miếng có vị mặn tính bình, không có độc. Dùng chữa nhọt sưng đau, ghẻ lở, sưng, phỏng. Muốn có nước miếng tốt, thì sáng sớm thức dậy chưa ăn, chưa nói gì, dùng nước miếng mới tiết ra mà bôi lên mụn nhọt. Còn có tác dụng làm sáng mắt, phá tan các màng mộng, giải độc, trừ tà độc và ngộ độc vì thuỷ ngân.
      Cho đến nay, tôi chưa chứng kiến người nào dùng nước miếng của mình làm tan màng mộng. Sau đây là lời kể một người tự chữa mụn hạt cơm (trích từ thư của cháu gửi ông)
    4. Chữa mụn hạt cơm: “ … hơn một năm, sau khi cháu sang Ba Lan, tự dưng ở ngón tay đeo nhẫn bàn tay trái của cháu mọc lên một hạt nho nhỏ. Lúc đầu trông nó giống như một hạt mụn nước nhỏ ở hơi sâu bên trong da ngón tay. Sau một thời gian nó to dần và vươn ra ngoài. Sau cùng nó nứt ra và ở giữa lòi ra những sợi nhỏ bằng đầu kim mà nếu bị đứt thì chảy máu. Bình thường nó chỉ tạo ra cảm giác khó chịu, nhưng chạm vào thì rất đau. Cháu đã bôi đủ các loại thuốc mà không khỏi vì nó không phải là loại mụn bình thường (không có mủ) mà như một nhóm tế bào phát triển không bình thường. Một thằng bạn cùng đoàn, người miền Nam bảo rằng đã từng bị và chữa khỏi bằng cách buộc chỉ. Cháu nhờ nó buộc hộ, nhưng mụn này của cháu to bằng đầu đũa và gốc sâu, lan rộng rất khó buộc, hơn nữa cháu bị đau như bị buộc cả cụm giây thần kinh, đau suốt dọc cánh tay. Được khoảng hai tiếng, đau quá cháu không chịu nổi phải tháo ra. Cháu đành vào viện để cắt nó đi. Người ta cắt cho cháu bằng điện. Sau khi cắt xong, cháu đau cứng đơ cả cánh tay trái, nhưng đến hôm sau thì đỡ nhiều. Cái mụn của cháu không khỏi hẳn, đáng buồn hơn là vài hôm sau ở đầu và sau móng tay của ngón tay giữa bàn tay phải lại mọc ra hai mụn tương tự, lần này muốn cắt cũng không cắt được. Hai mụn này làm cháu khó chịu hơn nhiều vì ở ngay đầu ngón tay nên rất dễ đụng phải và chảy máu. Cháu gọi điện về nhà và hỏi cách chữa, mẹ cháu bảo chữa bằng tàn giấy và nước bọt. Cháu không tin lắm, nhưng nghĩ chắc cũng đành phải thử. Cũng đúng dịp này, cháu nhận được bài viết về nước bọt từ nhà gửi sang. Cháu làm thử và nghĩ rằng bôi nước bọt thì quá đơn giản vì chẳng mất công và đau đớn gì mặc dù lúc đó cháu vẫn nghĩ rằng da kín như thế thì nước bọt sẽ chẳng có tác dụng. Nhưng ngay hôm sau (mặc dù bố mẹ cháu dặn là chữa kiểu này phải kiên trì) cháu thấy rất ngứa ở chỗ mụn và nhìn kỹ thì thấy một số sợi bị quắt đi và đen lại. Lúc ấy cháu cảm thấy tin tưởng và bôi nước bọt liên tục. Chỗ mụn ngày càng ngứa hơn nhưng hết đau nhức đồng thời chảy ra rất nhiều nước. Cháu bôi luôn cả chỗ cắt cũ, hiện tượng cũng tương tự. Chỉ sau 3-4 ngày bôi liên tục, khi rửa bát cháu nhận thấy rơi mất mụn ở đầu ngón tay, vài ngày sau đến lượt cái mụn ở sau móng tay và cuối cùng là cái mụn đầu tiên mà cháu đã cắt. Trừ cái mụn đầu tiên (do cắt) còn tất cả không để lại vết sẹo nào. Ngoài ra cũng biến mất hết những mụn con li ti đang bắt đầu mọc ở những nơi khác…”

     

     

    ]]>
    https://tracuuduoclieu.vn/nuoc-bot.html/feed 0
    Nhện https://tracuuduoclieu.vn/nhen.html https://tracuuduoclieu.vn/nhen.html#respond Thu, 19 Apr 2018 00:11:43 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/nhen/ Giới thiệu
    • Còn gọi là trứng nhện, bích tiền, bích tâm trùng, bích hỷ oa
    • Tên khoa học Uroctea compactilis Koch
    • Người ta dùng trứng hay toàn con nhện ôm trứng – Uroctea compactilis Koch, thuộc họ Nhện Oecobiidae. Quanh năm có thể bắt loại nhện này, thường thấy ở trên vách, ôm bọc trứng màu trắng hình đồng tiền

    Công dụng và liều dùng

    • Chỉ thấy dùng trong phạm vi nhân dân. Thường dùng ngoài, nhưng có khi dùng uống. Theo đông y, trứng nhện hay con nhện tính mát, không độc, thường dùng chữa chảy máu không ngừng, mụn nhọt, viêm cổ họng, đái dầm, mồ hôi trộm.
    • Dùng ngoài, người ta bắt con nhện còn sống ngắt bỏ chân, ấn lên mụn nhọt chưa vỡ mủ như đinh râu, rất chóng khỏi.
    • Dùng trứng nhện hay con nhện sao vàng hay nướng vàng tán bột mà dùng. Có thể dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác như ngà hay răng voi, ngưu hoàng, thanh đại, băng phiến. Ngày dùng 1 đến 2 con hay 1-2 bọc trứng nhện.

    Cần chú ý nghiên cứu.

    ]]>
    https://tracuuduoclieu.vn/nhen.html/feed 0
    Mật Ong https://tracuuduoclieu.vn/mat-ong.html https://tracuuduoclieu.vn/mat-ong.html#respond Wed, 18 Apr 2018 01:40:29 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/mat-ong/ Nguồn gốc

    Mật ong là chất lỏng sánh, mùi thơm, vị rất ngọt. Có rất nhiều giống ong cho mật. Tại Sapa-Lào Cai người ta phân biệt loại ong muỗi cho mật trắng và ong khoái cho loại mật màu vàng. Những giống ong đều thuộc lớp Cánh mỏng (Hymenoptera), họ ong Apidae.

    Ong sống thành đàn từ 25.000 – 50.000 con, trong các tổ ong chúng làm lấy trên những cây ở rừng hoặc trong các thân cây đục lỗ hoặc các hòm đặc biệt, mà người ta làm sẵn cho nó. Càng ngày người ta càng chú ý phát triển nuôi ong để lấy mật, vừa để tăng thu hoạch hoa màu.

    Trong một số tổ ong, không phải con ong nào cũng đi lấy và làm ra mật. Mỗi tổ ong đều có 3 loại: ong chúa, ong đực, ong thợ.

    • Ong chúa là ong cái duy nhất cả đàn. Ong này chỉ có nhiệm vụ đẻ trứng. Ong chúa dài và to hơn các con ong đực và ong thợ, thân hình mảnh dẻ và cánh ngắn hơn. Ong chúa cũng do một cái trứng như các trứng ong khác, nhưng từ khi nở ra cho đến khi thành nhộng, ấu trùng ong chúa được nuôi bằng một thứ mật đặc biệt chứa trong một ổ riêng do ong thợ xây thêm bên cạnh tầng. Thứ mật ong đặc biệt này gọi là mật ong chúa hay sữa ong hay sữa chúa. Ong chúa sống 3-4 hoặc 5 năm, lâu gấp 50 lần ong thợ. Ong chúa không làm ra mật chỉ ăn mật các con ong khác đem về.
    • Ong đực xuất hiện vào mùa hè, cũng không làm ra mật mà ăn thức ăn có sẵn trong tổ. Đời sống ong đực ngắn ngủi chỉ được 1-2 tháng. Sang thu, ong đực bị đuổi ra khỏi tổ và chết trước thềm tổ ong.
    • Ong thợ đi lấy mật, chiếm đa số trong tổ ong. Những con này nhỏ ngắn gọn gàng, bé hơn ong chúa và ong đực. Tuổi thọ trung bình của ong thợ thay đổi tùy theo lứa ong. Những lứa sinh ra vào mùa xuân và hạ thường chỉ sống khoảng 6 tuần lễ, những lứa sinh ra vào mùa thu lại sống 6 tháng.
    • Tính chất mật ong thay đổi tùy theo loại hoa. Trong mùa hoa người ta tính một ong thợ có thể dừng cánh trên 250 triệu bông hoa.

    Lấy mật

    Ta có thể lấy mật vào 3 mùa xuân, hạ, thu. Nhưng tốt nhất vào xuân hạ. Sang thu đông mật vừa ít lại vừa ảnh hưởng tới đời sống của con ong vì phải để ong có thức ăn qua mùa rét lạnh không có hoa. Hàng năm Việt Nam thường lấy mật vào tháng 3, 6 đôi khi vào cả tháng 9.

    • Thường lấy mật vào buổi sáng và trưa là lúc ong bay di ra ngoài nhiều, nhấc cầu của tổ ong lên dùng dao sắc, lưỡi mỏng cắt lấy tầng ong để lại tầng có nhộng và ấu trùng và những tầng đang xây dở dang.
    • Cắt tầng thành những miếng nhỏ, đặt trên các thanh tre kê ở mặt chiếc chậu khô sạch, rồi đem phơi nắng.
    • Nhờ sức nóng của mặt trời sáp của tầng bị chảy lỏng, mật được giải phóng và chảy xuống thau. Loại mật này tốt nhất có màu vàng nhạt.
    • Sau đó đung nóng và ép nhẹ sẽ được một thứ mật màu sẫm hơn.
    • Cuối cùng đun nóng già và ép kĩ hơn thì được loại mật có màu sẫm hơn nữa vì một số mật bị cháy thành caramen, cho màu nâu sẫm.

    Hiện nay tại các nước sản xuất nhiều mật ong người ta dùng máy li tâm để lấy mật.

    Tính chất của mật ong

    Tính chất mật ong thay đổi tùy theo từng vùng, từng tỉnh và từng thời kỳ lấy mật. Đặc biệt, mật ong có thể có chất độc nếu ong hút mật ở những cây có hoa độc như phụ tử, hoa thuốc lá, cà độc dược.

    Mùi và vị của mật ong phụ thuộc vào loại hoa có trong vùng. Đó là cơ sở khoa học để phân biệt mật ong từng tỉnh như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh…

    • Khi soi mật ong dưới kính hiển vi, ta sẽ thấy phấn hoa của nhiều loại cây khác nhau, người ta có thể dựa vào sự có mặt của một số loại phấn hoa để xác định mật ong của vùng nào.
    • Có loại mật ong màu vàng nhạt mặt gợn như đường có kết tinh ở dưới. Có người cho đó là loại tốt nhất. Nhưng thực tế cũng có loại mật ong lỏng trong, không đóng đường mà vẫn tốt và có loại mật ong có màu nâu sẫm hơn, cũng là loại mật ong tốt. Hiện nay chúng ta chưa chưa thể dùng nhận xét bên ngoài để đánh giá mật ong tốt xấu hoặc thực giả, mà phải nghiên cứa thành phần hóa học.

    Thành phần hóa học của mật ong

    Mật ong là mật hoa được ong chế biến và cô đặc lại.

    Trong mật hoa tỷ lệ nước chiếm 40-80%, còn trong mật ong chỉ có 15-20% nước. Thành phần mật ong thường và mật ong chúa cũng khác nhau.

    • Trong mật ong thường có 65-70% glucose và levunose, 2-3% saccarose. Ngoài ra còn có muối vô cơ, các acid hữu cơ, các men tiêu hóa chất béo, chất bột, men tiêu hóa chất đường, một ít tinh bột, protid, sáp, sắc tố, chất thơm, phấn hoa. Mật ong nhật bản có chứa acid pantotenic, acid nicotinic, acetylcolin, vitamin A,D,E.
    • Trong mật ong chúa hay sữa chúa tỷ lệ đường ít hơn, nhiều chất mỡ, chất đạm và vitamin.

    Phân biệt mật ong thật, giả:

    Người ta thường làm giả mật ong bằng mật mía, nước thủy phân tinh bột, hoặc siro. Mật ong của những con ong ăn đường hoặc mật mía có tỷ lệ saccarose cao.

    Cách 1:

    • Lấy một cọng hành tươi nhúng vào mật ong. Nếu cọng hành héo đó là mật ong thật. Mật càng đặc thì cọng hành héo càng nhanh.

    Cách 2:

    • Cho 1 ít mật ong vào cốc nước nguội. Nếu bạn thấy mật không tan, mật tròn vo rồi rơi xuống đáy cốc thì là mật ong thật. Trường hợp mật ong tan ngay sau khi rơi xuống thì là mật giả.

    Cách 3:

    • Nhỏ 1 giọt mật ong vào giấy thâm dầu. Nếu mật thật sẽ loang chậm hơn trên giấy thấm dầu so với mật ong giả.

    Cách 4:

    • Cho mật ong vào tử lạnh. Thấy mật cô đặc, quánh lại dẻo giống kẹo kéo thì là mật ong thật. Trường hợp mật có cô lại nhưng lắng cận đường và cứng ngắt là mật ong giả, pha trộn.

    Tác dụng dược lý

    • Mật ong là vị thuốc bổ
    • Mật ong có thể giảm độ acid của dịch vị, độ acid của dạ dày trở thành bình thường và làm cho hết các triệu chứng đau xót khó chịu của bệnh loét dạ dày và ruột.
    • Mật ong có thể dùng trong việc điều trị chứng bệnh về gan, túi mật, và một vài bệnh về thần kinh. Mật ong còn là thứ thuốc an thần rất tốt cho giấc ngủ ngon làm bệnh nhân đỡ nhức đầu.
    • Mật ong còn có tác dụng chống lại một số vi khuẩn.

    F. Công dụng và liều dùng

    Mật ong được dùng làm thuốc từ lâu. Theo tài liệu cổ mật ong có vị ngọt tính bình, vào 5 kinh tâm, phế, tỳ vị và đại tràng. Có tác dụng thanh nhiệt, bổ trung, nhuận táo, hoạt trường, giải độc hết đau. Dùng chữa tỳ vị hư nhược, táo bón, ho, đau bụng, giải độc ở đầu, dùng ngoài chữa lở miệng vết thương bỏng.

    • Thuốc bổ cho người lớn và trẻ em, chữa bệnh loét dạ dày và ruột, an thần, chữa nhức đầu và một số bệnh thần kinh, bệnh ho khan, viêm họng.
      Ngày dùng 20-50g. Có khi người ta chế mật ong thành thuốc tiêm làm thuốc bổ toàn thân.
    • Dùng ngoài chế thành thuốc mỡ hay nguyên chất đắp lên các mụn nhọt vết loét, vết thương.
    • Làm tá dược chế thuốc viên hay các loại thuốc khác.

    Đơn thuốc có mật ong:

    1. Đơn thuốc chữa loét dạ dày tá tràng: Mật ong 10g, cam thảo sống 10g, trần bì 6g, nước 400ml. Trước hết sắc cam thảo và trần bì với nước cô cạn còn khoảng 200ml thì lọc, bỏ bã. Thêm mật ong vào chia làm 2 hay 3 lần uống trong ngày.
    2. Đơn thuốc chữa cao huyết áp, táo bón: Mật ong 60g, vừng đen 50g. Trước hết nấu chín vừng, giã nát rồi thêm mật ong và chừng 200ml nước vào khuấy đều, chia làm 2 lần uống trong ngày sáng và tối.
    3. Mật ong chúa làm thuốc bổ cao cấp: ngày uống 2-3ml, ngậm trong miệng đến khi tan hết.
    ]]>
    https://tracuuduoclieu.vn/mat-ong.html/feed 0
    Nhái https://tracuuduoclieu.vn/nhai.html https://tracuuduoclieu.vn/nhai.html#respond Tue, 17 Apr 2018 01:56:48 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/nhai/ Mô tả

    Động vật lưỡng cư không đuôi, có kích thước nhỏ. Thân dài 3,5 – 4 cm, mắt to lồi, mõm tù, miệng rộng. Da trơn, không có vảy, có nhiều tuyến chất nhờn. Lưng màu nâu xám hoặc xanh nhạt, có nhiều đốm màu sẫm. Bụng màu trắng hoặc vàng nhạt. Có 4 chân, 2 chân sau dài và to hơn 2 chân trước .

    Phân bố, sinh thái

    Nhái phân bố ở Việt Nam,Trung Quốc và một số nước khác ở Đông Nam châu Á . Ở Việt Nam, khắp nơi từ đồng bằng, trung du đến miền núi đều có nhái. Nhái sống được trên cạn như đồng ruộng… vườn tược, bãi cỏ và dưới nước ở ao, đầm, suối. Thức ăn của nhái gồm chuồn chuồn, châu chấu, kiến, sâu, gián, nhện dế, giun. Thân nhiệt biến đổi theo môi trường. Mùa rét, nhái ngủ đông. Nhái đẻ trứng trong nước, trứng nở thành nòng nọc, sau biến thái, rụng đuôi thành nhái.

    Bộ phận dùng

    Cả con nhái có tên thuốc trong y học cổ truyền là hà mô

    Thành phần hóa học

    Nhái chứa nhiều protein, lipid, các muối Ca, P. Fc, các vitamin B1, B2, và PP.

    Tính vị, công năng

    Nhái có vị ngọt, cay, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu độc, chống viêm, trừ cam tích.

    Công dụng

    Trong dân gian, người ta hay chế biến nhái thành chả rán, một món ăn được nhiều người ở nông thôn ưa thích Về mặt thuốc, Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng nhái trong những trường hợp sau:

    • Chữa vàng da: Nhái (1 con) băm nhỏ. trộn với phèn đen (12 g) rồi cho vào một cái mề gà trống, nấu chín nhừ. Để nguội, bỏ nhái và phèn đen, ăn mề gà.
    • Chữa tâm thần bất ổn, nói năng lung tung: Nhái (1 con) đốt cháy, tán nhỏ, uống với rượu
    • Còn theo kinh nghiệm dân gian, con nhái thường được dùng ngoài để chữa mụn lở lâu ngày (nhái bỏ ruột, sao đen, tán nhỏ, trộn với dầu vừng, đáp), chữa đinh râu, vết tụ máu bầm tím (nhái phối hợp với lá mua, lá cà pháo, giã nhỏ, thêm ít nước vo gạo, gói vào bằng gạc nướng đắp), hoặc chữa sâu quảng (nhái giã nhỏ với rau răm và lá lốt, đắp).
    • Ở nhiều nơi, người dân có tập quán đắp con nhái sống giã nhỏ vào mắt để chữa đau mắt đỏ. Họ cho rằng đắp nhái có cảm giác mát, dễ chịu hơn dùng các loại lá cây. Việc làm này rất nguy hiểm vì trong thịt nhái luôn có sán lá  là vật chủ trung gian truyền bệnh cho người

    Nguồn : Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam.

    ]]>
    https://tracuuduoclieu.vn/nhai.html/feed 0