Tra cứu dược liệu https://tracuuduoclieu.vn Thu, 27 Mar 2025 03:06:34 +0700 vi hourly 1 Thiên danh tinh https://tracuuduoclieu.vn/thien-danh-tinh.html https://tracuuduoclieu.vn/thien-danh-tinh.html#respond Wed, 19 Oct 2022 02:49:02 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=69265 Mô tả
  • Cây thân thảo, sống lâu năm. Thân cao từ 0.5 – 1m mọc đứng đơn hoặc phân nhánh.
  • Lá thuôn nhọn, mắt lá có chấm tuyến, hình chóp nhọn ở cả hai mặt, thu hẹp ở gốc thành một cuống lá rộng, dài 10 – 15cm có lông ráp ở trên, có lông mềm nhiều hơn ở mặt dưới.
  • Cụm hoa đầu vàng, ở nách những lá phía trên, không cuống hoặc gần như không cuống, rộng 7-8mm.
  • Quả bế dài 2,5mm có rạch dọc theo chiều dài.
  • Mùa ra hoa: Tháng 6 – 10.

Phân bố

  • Thiên danh tinh phân bố ở các khu vực ven đường, bãi cỏ, bụi rậm, lề rừng, ven suối. Loài phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên ,Nhật Bản và Bắc Việt Nam.
  • Ở Việt Nam, Thiên danh tinh phân bố phổ biến ở phía Bắc Việt Nam chủ yếu là vùng cao Lào Cai, Hà Tây và Lạng Sơn

Bộ phận sử dụng

Quả (Hạc sắt), toàn cây.

Thành phần hóa học

Cây có tinh dầu. Trong quả có chứa thành phần carabrone, carpesialactone, n-hexanoic acid.

Tính vị

Thiên danh tinh có vị đắng, cay, tính bình.

Công dụng 

  • Quả của Thiên danh tinh dùng để trị giun đũa, giun kim, sán dây, đau bụng giun, viêm mủ ra.
  • Cành, rễ, lá dùng làm thuốc trị các chứng viêm do xung huyết như viêm cuống họng, viêm mạng sườn, viêm phế quản. Có tác dụng trị đau họng khá tốt.
  • Ngoài ra cành và lá có thể trị được trùng độc cắn.
  • Theo kinh nghiệm của dân gian Trung Quốc lá non giã nhừ chữa bệnh thối gan bàn chân. Dùng cành lá giã đắp ngoài trị côn trùng độc cắn, đốt.

Đơn thuốc có Thiên danh tinh

  • Trị giun đũa, giun kim : Hạc sắc 10g, hạt Cau 10g, Sử quân tử 10g sắc nước uống.
  • Trị côn trùng độc cắn, đốt: Sử dụng cành lá thiên danh tinh giã nát đắp bên ngoài vùng bị bệnh.

 

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/thien-danh-tinh.html/feed 0
Ráng lông https://tracuuduoclieu.vn/rang-long.html https://tracuuduoclieu.vn/rang-long.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:20:13 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57132 Mô tả
  • Ráng lông có thân rễ mọc bò, có lông, không có vảy, nhiều rễ mảnh nhỏ.
  • Lá mọc so le từ thân rễ, dài đến 1m, hình tam giác hoặc ngọn giáo, xẻ 2 – 3 lần lông chim, lá chét ở phía dưới mọc đối, có cuống dài, hình tam giác, dài đến 60 cm, rộng 25 cm, những lá chét này lại chia lông chim hai lần, lá chét ở phía trên hơi so le, hình lồng chim một lần hoặc có thể chở sâu, những đoạn phiến lá cuối cùng xiên, nguyên hoặc hơi khía tai bèo ở gốc.
  • Ở túi bào tử hình dải sinh ra ở mép ngoài của lá chét, có hai lớp áo, lớp trên gập xuống nhiều hay ít; bảo tử hình bốn mặt, màu vàng nâu.

Phân bố, sinh thái

Chi Pteridium Gled, ex. Scop. ở Việt Nam chi có 1 loại ráng lông kể trên. Theo Phan Kế Lộc (2001), loài này phân bố rộng rãi khắp trên thế giới, nhất là ở châu Á. Tại Việt Nam đã ghi nhận được về phân bố ở Lai Châu, Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hoà Bình (Mai Châu: Pà Cò), Nam Định (Giao Thuỷ: Giao Thiện), Kon Tum (Ngọc Hồi), Gia Lai (Mang Yang: núi Chư Tờ Mốc), Đăk Lăk, Lâm Đồng (Bi Đáp) và Côn Đảo [Danh lục các loài thực vật Việt Nam, t.1, 2001].

Ráng lông là loại cây trung bình, thường mọc thành đám lẫn trong tràng cỏ, rừng thứ sinh, rừng non hay sau nương rẫy.

Bộ phận dùng:

Thân, rễ.

Thành phần hóa học

Ráng lông chứa acid 3,4 – dilhydroxycinnamic, prumasin. Acid 3,4 – dihydroxycinnamic có tính kháng his – tanin. Ngoài ra, còn có aquilinan trong đó có các gốc của galactose, xylose, fucose và arabinose và các chất pterosin và pterosin F.

Các lá non chứa nhiều chất nhầy, protein 1,0%; chất béo 0,1%; cao chứa N tự do 5,6%; chất xơ 1,4%; chất vô cơ 0,6%; B – caroten 0,98 mg/100g.

Tác dụng dược lý

Tác dụng kháng nấm: Ráng lông có tác dụng kháng nấm mạnh như nấm Candida albicans, C. glabrata, C. tropicalis,…

Tính vị, công năng

  • Cây ráng lông vị ngọt, tính lạnh có công năng khu phong thấp, lợi niệu, thanh nhiệt, an thần, giáng áp, thu liễm, cầm máu.
  • Thân rễ và lá rất độc đối với cá, thỏ, trâu bò,…

Công dụng

Ráng lông được dùng để lợi tiểu, thanh nhiệt, an thần. Thân rễ còn dùng chữa phong thấp, trị sán, nhưng là vị thuốc độc nên khi dùng phải thận trọng. Liều dùng mỗi ngày 9 – 15g sắc uống.

Lá non có thể ăn sống như xà lách, hoặc ăn như măng tây, làm rau ăn thì dễ ngủ, nhưng không được ăn nhiều vì có thể gây đầy bụng, khó tiêu, mắt mờ. Trẻ con ăn thì chân yếu, chậm biết đi, ăn lâu, ăn nhiều thì giảm thọ.

Trước đây vào mùa đói kém, nhân dân lấy thân rễ để ăn. Thường chế thành bột, nhưng đắng, phải lọc rửa nhiều lần cho hết đắng. Người và gia súc có thể ăn, nhưng không được ăn nhiều, có hại cho sức khỏe.

  • Ở Vân Nam (Trung Quốc) thân rễ ráng lông được dùng chữa viêm xương khớp, thấp khớp, lỵ, huyết áp cao, phế kết hạch, ho ra máu, thoát giang và để khử trùng (tẩy giun sán). Để chữa thấp khớp, lấy thân rễ và cuống lá ngâm rượu tronguống, ngoài xoa.

Chú ý:

Ráng lông là một cây độc. Ngộ độc thường xảy ra ở loài ăn cỏ.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/rang-long.html/feed 0
Chàm bụi https://tracuuduoclieu.vn/cham-bui.html https://tracuuduoclieu.vn/cham-bui.html#respond Fri, 25 Jun 2021 15:44:40 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=55963 Mô tả
  • Cây thảo mộc thành bụi, cao 1 – 1,5m, có lông áp sát. Rễ có nhiều nốt sần, Thân hình trụ nhẫn.
  • Lá kép lông chim lẻ mọc so le, gồm 2 – 9 đối lá chét mọc đối, hình trái xoan ngược hay thuôn mắc, góc tròn, đầu nhọn, mặt trên gần nhẵn, mặt dưới có lông mọc rạp xuống.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ là thành chùm bông, cuống rất ngắn, gồm rất nhiều hoa màu đỏ, dáng cong xếp sít nhau; lá bắc hình sợi mảnh, đài hình chuông, răng ngắn và rộng, có lông ở mặt ngoài, tràng không đều.
  • Quả đậu, hình dài, nhẫn, xếp sít nhau, ngồi xuống phía dưới, mép dày và cong lên trên thành hình lưỡi cưa, hạt 5 – 10, hình khối.
  • Mùa hoa: tháng 8 – 9, mùa quả: tháng 10 – 11.

Phân bố, sinh thái

Chàm bụi vốn có nguồn gốc có lẽ ở Ấn Độ, sau được du nhập hoặc phát tán xuống Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Australia và sang cả Trung Quốc, Lào. Ở Việt Nam, theo một số tài liệu Từ điển cây thuốc Việt Nam, 1997; Danh mục các loài thực vật Việt Nam, T.II, 2003] thì đây cũng là loại cây trồng, cùng với loài Chàm là nhỏ (l. tinctoria L.) để nhuộm vải và làm thuốc.

Vùng trồng chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Việt Bắc và Đông Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Quảng Ninh. Cây cũng có thể trở thành hoang dại hoá trên các nương rẫy cũ, ven đường đi hoặc ở các bãi hoang quanh làng bản.

Chàm bụi là cây ưa sáng, ưa ẩm và ưa khí hậu mát ở vùng núi. Cây gieo từ hạt, nếu không bị cắt cành lấy lá sẽ ra hoa quả ngay trong năm đầu tiên. Tái sinh tự nhiên và cũng được gieo trồng bằng hạt vào đầu mùa xuân. Rễ chàm bụi có nhiều tốt sần, chứa vi khuẩn cố định đạm. Vì thế cây còn được trồng để cải tạo đất.

Bộ phận sử dụng

Lá.

Thành phần hóa học

Lá chứa một glucosid đặt tên là indican, chất này khi thuỷ phân cho glucosa và indoxy. Trong không khí indoxyl cho màu xanh đậm, rất bền [Võ Văn Chi, 1996, Từ điển cây thuốc Việt Nam, tr.209].

Trong lá chàm bụi còn chứa nitropropanoylglucopyranoisid (planta medica, 1978, 34, 172) và 2, 3, 4, 6 tetra – (3 – nitropropanoyl) – glucopyranosa [Phytochem, 1989, 28(4), 1251]. Ngoài ra người ta còn tìm thấy louisfieseron [Trung được từ hải,tập III, tr.425].

Tác dụng dược lý

Tác dụng kháng vi sinh vật:

Cao khô chiết nước thu được bằng cách hãm lá có hoạt tính ức chế mạnh trên vị khuẩn Gram dương là Staphylococus aureus.

Nghiên cứu này chứng minh kinh nghiệm trong nhân dân dùng nước hãm lá chàm bụi để điều trị nám da (Leite et al., 2006).

Tác dụng độc của quả chàm bụi:

Cao quả chàm bụi chiết bằng nước khi tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng đục gây ra độc trên da. Thí nghiệm tác dụng độc trên hệ di truyền (toxicogenetic effect) thấy ở lỗ tiêm hàng ngày với liều bằng 12,5% liều LD50 trong nhiều ngày, tần số các tế bào bị sai lạc nhiễm sắc thể (chromosome abernation) tăng có ý nghĩa thống kể so với lô đối chứng. Thí nghiệm này cánh bảo cần hết sức thận trọng khi dùng chàm bụi làm thức ăn cho gia súc có sừng (Ribeiro et al., 1991).

Tác dụng độc tế bào và chống u ở lá chàm bụi:

Cao nước của lá chàm bụi có thể được dùng như một thuốc hỗ trợ chữa ung thư.

Tính vị, công năng

Chàm bụi vị đắng, hơi ngọt, tính lạnh, vào kinh can, có công năng thanh nhiệt, hạ sốt, giải độc, làm mát máu tiểu ban chẩn, tiêu sưng viêm, cầm máu, có độc.

Công dụng

Nước sắc lá chàm bụi có tác dụng làm toát mồ hôi, còn nước sắc rễ và hạt được dùng để trị giun.

Liều dùng: 6-12g sắc nước uống

Dùng ngoài chữa mụn nhọt, lở loét, nổi bọng nước đau nhức, lấy lá chàm bụi rửa sạch, giã nát, đắp.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/cham-bui.html/feed 0
Tai tượng xanh https://tracuuduoclieu.vn/tai-tuong-xanh.html https://tracuuduoclieu.vn/tai-tuong-xanh.html#respond Thu, 11 Apr 2019 02:52:09 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=31416 Cây Tai tượng xanh (hay còn gọi là Tại tượng Ấn) là một loại cây bụi nhiệt đới nổi bật với những chùm hoa đỏ mềm mại, dài và rủ xuống, trông giống như những sợi len hoặc đuôi mèo. Các chùm hoa này mọc từ nách lá và có thể dài tới 45 cm, tạo nên vẻ ngoài rất ấn tượng.

Cây thường được trồng làm cảnh, dễ chăm sóc, phù hợp với các khu vực nhiệt đới.. Cây nhanh phát triển thành bụi lớn vì vậy cần thường xuyên cắt tỉa.

Tai tượng xanh 1

Mô tả

Cây: Cây thảo, cao khoảng 1 – 2m, phân cành ngay từ gốc. Thân và cành có lông ngắn, có rãnh.

Mô tả 1

Lá: Lá tai tượng xanh mọc so le, hình trái xoan, gốc hình nêm, đầu tù, dài 3.5 – 5cm, rộng 2,5 – 4cm, mỏng nhẵn, mép khía răng ở quãng giữa đến đầu lá, gần gốc 5; cuống lá dài 3,5 – 7,5 cm, lá kèm sớm rụng.

Mô tả 2

Hoa: Cụm hoa mọc ở kẽ lá, đơn độc hoặc tụ họp ít hoa trên cuống dài 4 – 8cm, gồm hoa đực ở trên, hoa cái ở dưới, hoa đực có 4 lá đài, 8 nhị; hoa cái có lá đài có lông mi ở mép, bầu có lông. Mùa hoa quả: tháng 6 – 7.

Quả: Quả nang, có lông. Hạt hình trứng.

Mô tả 3
Thân cây tai tượng xanh

Phân bố, sinh thái

  • Tai  tượng xanh phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới cổ, từ Châu Á đến Châu Phi. Ở Châu Á, cây có ở Ấn Độ và hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á, bao gồm Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào, Mianma và ở phía Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, tai tượng xanh cũng phân bố rải rác khắp các tỉnh từ vùng đồng bằng sông Cửu Long đến các tỉnh ở Tây Nguyên và đồng bằng trung du Bắc Bộ.
  • Cây ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm ở các bãi hoang, ven đường đi, nương rẫy và ruộng mới bỏ hoang ở miền núi. Tai tượng xanh là cây mọc nhanh, ra hoa quả nhiều, nhân giống tự nhiên chủ yếu từ hạt. Cây mọc ở các tỉnh phía Bắc có thể tàn lụi vào mùa đông.

Bộ phận dùng

Lá, rễ

Thành phần hóa học

  • Theo Manzoor – i – Khuda M., 1985, rễ và lá tai tượng xanh có stigmasterol. Lá có 1 ester là acalyphol acetat (CA 108: 52780x).
  • Tai tượng xanh còn có sitosterol (Compendium on indian medicinal plants, vol. 1 (1960 – 1969), 1999

Tác dụng dược lý

Tác dụng dược lý 1

Loài này được L. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753

Theo tài liệu nước ngoài, lá, rễ, chồi non và hoa tai tượng xanh có tác dụng tẩy, diệt giun sán, lợi đờm, gây nôn, giảm đau và gây ngủ.

Các hoạt tính dược lý nổi bật

  • Kháng viêm, chống oxy hóa: Hỗ trợ trong việc làm dịu các phản ứng viêm và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do gốc tự do.
  • Hạ đường huyết: Giúp giảm mức đường huyết, có tiềm năng hỗ trợ điều trị tiểu đường.
  • Kháng khuẩn, kháng nấm: Có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn và nấm.
  • Hoạt tính trypanocidal: Chống lại ký sinh trùng Trypanosoma gây bệnh.
  • Tính chất độc tế bào: Có tiềm năng tiêu diệt các tế bào bất thường, mở ra hướng nghiên cứu trong điều trị ung thư.

Công dụng

Công dụng 1
Lá tai tượng xanh

Công dụng của lá tai tượng xanh

  • Nhuận tràng: Lá cây được sử dụng như thuốc giúp điều trị táo bón.
  • Lợi tiểu: Giúp tăng cường bài tiết nước tiểu.
  • Hỗ trợ điều trị bệnh phong và bệnh lậu: Lá cây thường được dùng trong các bài thuốc dân gian để giảm triệu chứng của hai căn bệnh này.

Công dụng của các bộ phận khác

  • Điều trị tiêu chảy nhiễm trùng: Các bộ phận khác của cây được dùng để kiểm soát tình trạng tiêu chảy do nhiễm khuẩn.
  • Hỗ trợ điều trị các vấn đề về phổi: Được dùng để giảm triệu chứng liên quan đến các bệnh phổi.
  • Làm long đờm trong bệnh hen suyễn: Có tác dụng như một chất làm loãng và loại bỏ đờm, giúp dễ thở hơn.

Công dụng của hoa

  • Chữa tiêu chảy: Hoa của cây thường được sử dụng trong y học truyền thống tại Ấn Độ để điều trị tiêu chảy.

Công dụng chữa bệnh theo y học dân gian ở một số nước:

Cây Tai Tượng Xanh được sử dụng phổ biến trong y học dân gian ở nhiều nước như Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Malaysia với các công dụng sau:

1. Chữa các bệnh về tiêu hóa

  • Thuốc tẩy giun tự nhiên: Lá cây được dùng như thuốc tẩy, giúp loại bỏ giun đường tiêu hóa khi phối hợp với tỏi.
  • Điều trị táo bón ở trẻ em: Lá nghiền nát làm thành thuốc đạn đặt vào trực tràng, giúp giãn cơ thắt hậu môn và khôi phục đại tiện bình thường.

2. Trị các bệnh về da và xương khớp

  • Chữa ghẻ lở: Lá tai tượng xanh được trộn với muối, giã nát và đắp lên vùng da bị ghẻ lở.
  • Giảm đau thấp khớp: Lá tươi phối hợp với chanh và hành củ giã nát, dùng đắp lên vùng bị đau nhức.

3. Chữa các bệnh về hô hấp

  • Gây nôn an toàn cho trẻ em: Dịch ép từ lá tai tượng xanh tươi, dùng liều một thìa cà phê giúp gây nôn, đặc biệt hiệu quả trong trường hợp viêm tắc thanh quản.
  • Lợi đờm và hỗ trợ điều trị hô hấp: Với liều nhỏ hơn, dịch ép từ lá có tác dụng lợi đờm, điều trị viêm phế quản mạn tính và hen suyễn.

4. Công dụng khác

  • Thuốc hỗ trợ tâm thần: Nước hãm từ rễ cây được dùng làm thuốc tẩy để hỗ trợ điều trị các trường hợp điên cuồng.
  • Ngâm rượu chữa bệnh: Lá, cành, và hoa của cây tai tượng xanh được ngâm rượu và uống kèm mật ong nhiều lần trong ngày để hỗ trợ sức khỏe.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/tai-tuong-xanh.html/feed 0
Xoan ấn độ https://tracuuduoclieu.vn/xoan-an-do.html https://tracuuduoclieu.vn/xoan-an-do.html#respond Wed, 03 Apr 2019 02:24:23 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=30638

Mô tả

  • Cây to, cao 8 – 15m. Lá kép hình lông chim lẻ, mọc so le, gồm 6-7 đôi lá chét mọc đối, hình mác, dài 6 – 8cm, rộng 2 – 3cm, phiến lệch, nhẵn, đầu nhọn, mép khía răng (lá non có mép nguyên).
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá, ngắn hơn lá, gồm nhiều hoa xếp thành những xim nhỏ, cuống có lông; lá bắc ngắn, sớm rụng; hoa nhỏ màu trắng, giống hoa xoan, thơm, dài 5 – 6mm; đài 5 răng nhỏ, hình mắt chim, mặt ngoài có lông; tràng 5 cánh thuôn hẹp, uốn cong; nhị 10, phình ở gốc, hơi thắt lại ở đầu.
  • Quả hạch dài khoảng 2cm chứa một hạt.

Phân bố, sinh thái

  • Chi Azadirachta Juss. có 2 loài ở Việt Nam, trong đó loài xoan Ấn Độ là cây nhập nội.
  • Xoan Ấn Độ được du nhập và trồng thành công ở một số nước nhiệt đới thuộc vùng cận xích đạo. Năm 1981, một số hạt giống của xoan Ấn Độ được đưa về trồng thử nghiệm ỏ khuôn viên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Thuận. Sau nhiều năm, cây đã cho hạt giống để nhân trồng tiếp và đến năm 1998, hàng loạt cây con chính thức được đem trồng trên một vùng cát khô cằn thuộc xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Rừng xoan Ấn Độ ở đây đã được 5 năm tuổi; cây sinh trưởng phát triển tốt, không cần chăm sóc nhiều (Nguyễn Trung, Báo Lao động, chủ nhật, 4/8/2002).
  • Xoan Ấn Độ là cây đặc biệt ưa sáng; cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, mặc dù lượng mưa ở vùng Ninh Phước được coi là thấp nhất ở Việt Nam. Cây trồng thích nghi cao với thời tiết nắng nóng có gió cát thường xuyên của vùng bán hoang mạc. Cây trồng được 5-6 tuổi, bắt đầu có hoa quả, vào các năm sau cây sẽ cho nhiều hoa quả hơn. Cây gieo trồng bằng hạt dễ dàng.
  • Gỗ xoan Ấn Độ tương đối cứng, không bị mối mọt, được dùng trong xây dựng và đóng đồ. Xoan Ấn Độ có triển vọng là cây trồng rừng quan trọng trên các vùng cát khô cằn ở ven biển.

Bộ phận dùng

  • Vỏ thân, vỏ rễ và quả.
  • Khi lấy vỏ thân làm thuốc nên chọn những cây đã đến tuổi khai thác gỗ (6 – 7 năm), chặt cả cây cạo bỏ vỏ đen ở ngoài rồi bóc lấy lớp vỏ lụa trắng của thân và cành to. Rễ cũng bóc lấy vỏ.
  • Vỏ thu được đem phơi hay sấy khô, khi dùng sao cho hơi vàng, hết mùi hăng là được.

Thành phần hóa học

  1. Vỏ thân xoan Ấn Độ chứa các chất đắng nimbin (đ.c 204°), acid nimbidic, deacetylnimbin (đ.c 208°C) (Tetrahedron 1960, 11, 67; Indian J. chem, 1967, 5, 460) kulinon, kulacton, kulolacton; methylkulonat (Tetrahedron 1973, 29, 1911).
  2. 6ß hydroxy 4 stigmasten 3 – on; 6ß hydroxy – 4 – campesten – 3 – on (Phytochemistry ‘1973, 12, 903). Một chất tetranorterpenoid là vilasinin cũng được phân lập và xác định cấu trúc (CA, 1974, 80, 146356 u), 3 chất tricyclic điterpenoid là nimbosodinon, nimbisonol và dimethylnimbionon; 2 chất diterpenoid là margoson và margosolin đã được xác định cấu trúc (Planta med 1990, 56, 84). vỏ còn có các polysaccharid CSPI, CSPII và CSPIII (CA. 1990, 113, 178105 c; CA 1990, 112, 204662 h) các dẫn chất polyacetat như margosinon và margosinolon.
  3. Vỏ rễ chứa các chất terpenoid như nũnbilin và nimolinin, các tricyclic triterpenoid như margocin, margocinin và margocilin (Phytochemistry 1990, 29, 911). Ngoài ra, còn các diterpenoid như nimbocidin và nimbilicin (CA. 1990, 112, 52298 d). Rễ có các triterpen azadirinin, 24 – methylencycloartanon, cycloeucalenon, 24 methylencycloartanol cycloeucalenol, 4. stigmasten – 3 – 4 campesten – 3 – on; triacontanol, aldehyd vanilic, acid vanillic và acid trans cinnamic.
  4. Hạt xoan Ấn Độ chứa 45% dầu với các chỉ số như d310 0,9129; lỈQ1 1,4658; chỉ số xà phòng 195,6, chỉ số iod 69,2, chỉ số acid 11,2, thành phần chất béo chủ yếu là acid oleic (khoảng 53%) stearic (khoảng 18%) và acid palmitic (khoảng 14%), một lượng nhỏ các acid linoleic và arachidic. Dầu hạt có các chất tetranor triteipenoid như epoxyazadừadion (đ.c 199°) azadừadion; azadừon, meliantriol (đ.c 176°) deacetylnimbin (đ.c 208°) meldenin (đ.c 240°); vipinin; limbocinin và limbocidin và các glucosid của stigmasterol (CA. 1990, 112, 73762 r), nombinol (Tetrahedron 1990, 46, 775). Một chất có tác dụng trừ sâu là azadừachtin cũng được phân lập từ hạt.
  5. Vỏ hạt và hạt còn có các tetracyđic triterpenoid azadừol, các tetranor triterpenoid azadừachtin H và I, K cùng với nimbolid; Ohchinolid B, 6 deacetyl nimbin, azadừadion, nimbin và solannin. (Indian f. chem 1992, 31B, 295) chất đắng nimbidinin và acid nimbidic (Phytochemistry 1971, 10, 857) các chất trinortriterpenoid; limbonin epoxy azadừadừadion (CA. 1992, 116, 191035 m).
  6. Quả xoan Ấn Độ chứa các triterpenoid: azadkachtin (Phytochemistry 1973, 12, 391) một chất đẳng phân của epoxy azadiradion D – 72° (CA. 1976, 84, 86739 s), sốlanin (CA. 1977, 87, 102473 v) 17p hydroxy azadừadion (Tetrahedron lett 1978, 611) 21, 23, 24, 25 diepoxy tirucall – 7 en – 21 ol (Planta Med 1979, 35, 76), một chất có tác dụng diệt sâu bọ được xác định là 1 – cinnamoyl 3, 11 dihydroxy meliacarpin (CA. 1991, 115, 25960 u).

Tác dụng dược lý

Dầu hạt xoan Ấn Độ với liều 4ml/kg/ngày cho chuột cống trắng cái uống vào những ngày 1-3, 4-6, 6- 8 và 8-10 của thai kỳ gây tác dụng chống sinh sản 80%, 60%, 50% và 30% tương ứng. Liều 6ml/kg/ngày vào những ngày 2-3 và ngày 1 và 3 gây tác dụng chống sinh sản 90% và 50% tương ứng; 3 trong 13 chuột uống liều này ở ngày 2 và 3 của thai kỳ đã chết. Dầu hạt xoan Ấn Độ được đưa vào trong âm đạo chuột đã được thắt chi ở phía dưới các sừng tử cung (các nhóm B, C và D) trong các ngày 2-4, 4-6 hoặc 7-9 sau khi giao hợp, tương ứng. Chuột ở nhóm A (đối chứng) cho thấy sự thắt chỉ không gây tác dụng không mong muốn trên số lượng vị trí làm tổ, trong khi chuột ở các nhóm B, C và D không có vị trí làm tổ nào có khả năng sống ở cả hai sừng tử cung. Có thể những hoạt chất của xoan Ấn Độ được hấp thu qua niêm mạc âm đạo vào trong tuần hoàn máu và gây tác dụng chống sinh sản.

Trong nghiên cứu về tác dụng nội tiết có liên quan đến tác dụng ngừa thai sau giao hợp, dầu hạt xoan Ấn Độ tiêm dưới da với liều tối đa 0,3 ml/chuột không có tác dụng oestrogen, kháng oestrogen hoặc tác dụng kiểu progesteron, và hầu như không ảnh hưởng đến tác dụng của progesteron. Những phát hiện này được xác nhận trong xét nghiệm về kiến trúc mô học của tử cung chuột thử thuốc. Cao cồn vỏ và lá xoan Ấn Độ có hoạt tính kháng khuẩn, vỏ có hoạt tính ức chế mạnh hơn lá trên Bacillus magaterium, Shigella sonnei và Aspergillus niger.

Đã nghiên cứu tác dụng của cao lá xoan Ấn Độ trên sự tăng trưởng của nấm Aspergillus và sinh tổng hợp aflatoxin. Bào chế cao lá bằng cách trộn 50g lá tươi với dung dịch 1/10 mM kali phosphat, hoặc đun sôi lá trong dung dịch đệm. Trộn cao lá vào môi trường nuôi cấy nấm ở nồng độ 1,5, 10, 20 và 50% (theo thể tích) trước khi cấy truyền. Cao lá không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nấm (đến trọng lượng khô thể sợi nấm), nhưng chủ yếu phong bế (98%) sinh tổng hợp aflatoxin ở nồng độ trên 10% (theo thể tích). Tác dụng ức chế hơi giảm (ức chế 60 – 70%) ở cao lá đun nóng. Tuy vậy các chất bay hơi từ cao lá trộn không ảnh hưởng đến sự tổng hợp aflatoxin hoặc sự tăng trưởng của nấm.

Cao nước hạt xoan Ấn Độ có ảnh hưởng trên hệ thống men chuyển hóa thuốc. Khi cho chuột nhắt trắng uống cao nước hạt xoan Ấn Độ trước khi cho pentobarbital, cao này đã tác động trên men chuyển hóa, nên có tác dụng làm chậm sự phân hủy của pentobarbital và kéo dài thời gian giấc ngủ của chuột. Một liều (10, 40 hoặc 160 mg/kg, 5ml/kg) của cao nước lá xoan Ấn Độ có tác dụng chống loét dạ dày trên chuột cống trắng. Tác dụng của liệu pháp 5 liều cao nước lá xoan Ấn Độ được nghiên cứu trên loét dạ dày, số lượng dưỡng bào niêm mạc và dịch nhầy tuyến dạ dày. Chuột nhịn đói 48 giờ được cho uống cao 10, 40 hoặc 160 mg/kg ở 9 và 17 giờ ở các ngày 1 và 2 và ở 9 giờ ngày 3. Cao lá xoan Ấn Độ làm giảm mức độ thương tổn dạ dày phụ thuộc vào liều và dự phòng sự mất hạt của dưỡng bào; làm giảm dịch nhày ở chuột không bị stress nhưng làm tăng ở chuột có stress (160 mg/kg). Xoan Ấn Độ có tác dụng chống loét do dự phòng sự mất hạt của dưỡng bào và sự tiêu chất nhầy ở chuột có stress.

Trong thử nghiệm trên cơ tâm nhĩ chuột cống trắng và chuột lang cô lập, kích thích điện và đập tự nhiên, cao methanol của rễ, quả hoặc lá xoan Ấn Độ có tác dụng làm giảm nhịp tim và không có tác dụng rõ rệt trên lực co cơ tím. Cao aceton lá xoan Ấn Độ có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung và hệ thần kinh tự động, làm giảm hoạt động tự nhiên, tần số hô hấp, trương lực cơ, giảm huyết áp, gây tình trạng tâm thần thụ động, dựng lông và hạ nhiệt sau khi cho chuột nhắt trắng uống. Phân đoạn tan trong ether của cao cồn lá xoan Ấn Độ có hoạt tính giảm đau trong đau do viêm cấp, hoạt tính chống viêm yếu. Có thể phân đoạn này không chứa hoạt chất chống viêm, trong khi cao cồn có hoạt tính chống viêm. Dầu hạt xoan Ấn Độ làm giảm đường máu lúc đói của thỏ bình thường. Chất đắng nimbidin với liều 200 mg/kg thể trọng làm giảm đường máu 5 giờ sau khi cho uống. Lá có tác dụng chống tăng đường máu trên chó. Dầu hạt có tác dụng gây hạ đường máu cả trên động vật được gây đái tháo đường thực nghiệm.

Một chế phẩm từ vỏ xoan Ấn Độ dùng chữa bệnh da thể hiện có tác dụng điều hòa miễn dịch in vitro. Một số polysacharid trong vỏ xoan Ấn Độ có tác dụng điều hòa miễn dịch mạnh. Cao lá có tác dụng ức chế ký sinh trùng sốt rét trong thử nghiệm in vitro trên chủng Kj kháng nhiều thuốc của Plasmodium falciparum với nồng độ ức chế 50% bằng 100 – 499 (ig/ml. Cho gà uống cao nước quả (tương đương với 5g quả) thấy triệu chứng ngộ độc xuất hiện sớm, gà trông lờ đờ, sau đó không ăn, đầu rũ xuống và mào xanh tím; 60% gà chết trong vòng 24 giờ. LD50 của dầu hạt xoan Ấn Độ bằng đường uống, sau thời gian theo dõi 24 giờ, là 14 ml/kg trên chuột cống trắng và 24 ml/kg trên thỏ. Trước khi chết, cả hai loài động vật đều biểu hiện những triệu chứng ngộ độc có thể so sánh được với nhau trên phổi và hệ thần kinh trung ương là những cơ quan đích bị nhiễm độc.

Cho gà con ăn thức ăn chứa 2% và 5% lá xoan Ấn Độ từ ngày 7 đến ngày 35 sau khi sinh, thấy những biến đổi bệnh lý chính là tăng hoạt độ các enzym lactic dehydrogenase, glutamic oxaloacetic transaminase và alcaline phosphatase, tăng nồng độ acid uric và bilừubin và giảm nồng độ protein toàn phần trong huyết thanh. Có những thay đổi đáng kể trong số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin, kết hợp với màu vàng ở chân và mào gà và bệnh gan thận. Mô không hồi phục hoàn toàn sau khi ngừng cho thuốc hai tuần. Các enzym oxydase có vai trò trong tác dụng độc hại gan mật của cao nước lá. Các chất ức chế enzym oxydase (cimetidin và metyrapon) ức chế mạnh tác dụng độc hại gan của xoan Ấn Độ. Cao nước lá xoan Ấn Độ cho thỏ uống với liều 2328 mg/kg gây tăng đáng kể SGPT, SGOT và alcaline phosphatase, gây hoại tử lan rộng và tăng sản tế bào đường mật là những biểu hiện của tác dụng độc hại gan mật.

Sau khi dùng Nimbola là chế phẩm từ dầu hạt xoan Ấn Độ, bệnh nhân thấy giảm các triệu chứng đau cơ, ngứa, mệt mỏi, đau bụng và khó tiêu. Dầu hạt xoan Ấn Độ uống có tác dụng hiệp đồng với các thuốc đái tháo đường uống và giúp giảm dần liều các thuốc này. Thuốc trứng đặt vào âm đạo bào chế từ dầu hạt xoan Ấn Độ được thử nghiệm trên lâm sàng ở thời kỳ trước giao hợp làm thuốc ngừa thai. Kết quả thử nghiệm lâm sàng gợi ý là dầu hạt xoan Ấn Độ không tác động tới niêm mạc âm đạo hoặc các cơ quan sinh dục ngoài của nam giới, và không gây ung thư. Cơ chế tác dụng chống sinh sản của thuốc trứng có thể do hoạt tính kìm tinh trùng.

Công dụng

Xoan Ấn Độ chỉ được dùng trong một số trưòng hợp cá biệt để làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian ở Việt Nam.

Ở Ấn Độ, nhân dân dùng dầu hạt xoan Ấn Độ tri bệnh da như lao hạch, loét lâu lành, nhọt lở và bệnh nấm da, và làm thuốc bôi xoa trị thấp khớp. Dầu này còn có tác dụng trị giun và diệt sâu bọ. Nimbidin từ dầu hạt xoan Ấn Độ và natri nimbidinat tương đối ít độc (liều chết tối thiểu đối với ếch là 0,25 mg/g thể trọng). Các chế phẩm từ nimbidin có tác dụng trị các bệnh da, mụn lở nhiễm khuẩn, loét do bỏng, chảy máu lợi và chảy mủ.

Vỏ cây là thuốc làm săn, chống sốt chu kỳ, sốt rét và bệnh da. Lá phơi trong râm để trong sách có tác dụng chống nhậy. Lá giã dấp tri nhọt, và nước sắc tri loét và eczema. Hoa khô được coi là thuốc lợi tiêu hóa. Quà có tác dụng tấy, làm mềm da và tri giun.Cành non để tươi dùng chải răng khi có viêm mủ lợi. Lá non nghiền nát với hạt tiêu và gừng với tỷ lệ bằng nhau, trộn kỹ và làm thành viên nhỏ bằng hạt đậu, ngày uống 2 lần mỗi lần một viên chữa đái tháo đường. Để trị sốt rét, lá khô tán bột (5g/lần, ngày 2 lần) uống trong 3 ngày với mật ong. Lá nhai đắp vào chỗ rắn cắn.

Ở Nepal, nhân dân dùng nước sắc từ hỗn hợp 5g lá xoan Ấn Độ, 1g thân rễ thủy xương bồ và ít muối uống lúc nóng làm hai lần trong ngày. Dùng 2-4 ngày để trị viêm họng, làm long đờm. Dùng 5 – 7g lá sắc vối 1 lít nước còn 200ml, uống lúc nóng với mật ong, chia làm 2 lần trong ngày để trị tiêu chảy và lỵ. Dùng 2-3 ngày. Dầu hạt còn được dùng làm thuốc trị giun. Ở Pakistan, nhân dân dùng quả xoan Ấn Độ sắc uống trị đau dạ dày, đau bụng sau khi đẻ và trĩ. Ở Nigiêria, cao nước lá xoan Ấn Độ trị sốt rét.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/xoan-an-do.html/feed 0
Xuyên tâm liên https://tracuuduoclieu.vn/xuyen-tam-lien.html https://tracuuduoclieu.vn/xuyen-tam-lien.html#respond Tue, 26 Mar 2019 02:03:31 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=30124

Mô tả

  • Xuyên tâm liên là cây nhỏ, sống hàng năm, cao 0,4 – 1m. Thân vuông, mọc thẳng đứng, phân nhiều cành nhẵn.
  • Lá mọc đối, có cuống ngắn, hình mác, đài 3-10 cm, rộng 1-2 cm, gốc thuôn, đầu nhọn dài, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm đen.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu cành thành chùm thưa; hoa màu trắng, điểm những đốm hồng tím, đài có 5 răng nhỏ, đều, có lông; tràng hợp ở phần dưới thành ống hẹp, hình trụ có lông, phần trên loe ra chia 2 môi, môi trên hẹp dài, môi dưới xẻ 3 thùy rộng, đầu nhọn; nhị 2, đính ở họng tràng; bầu 2 ô.
  • Quả nang, hẹp, thuôn dài khoảng 1,5 cm, hơi có lông mịn; hạt hình tròn.
  • Mùa hoa: tháng 9 – 12; mùa quả: tháng 1-2.

Phân bố, sinh thái

Chi Andrographis Wall. có khoảng 40 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á.

Ở Việt Nam có 2 loài, trong đó có cây xuyên tâm liên. Xuyên tâm liên có nguồn gốc từ Ấn Độ, sau lan sang các nước nhiệt đới khác, như Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Philippin, Indonexia, Australia và Trung Quốc. Cây cũng được nhập sang tận vùng Trung Mỹ. Ở các nước châu Á, xuyên tâm liên chủ yếu được trồng, đồng thời cũng thấy mọc trong trạng thái tự nhiên. Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam là những nơi trồng nhiều xuyên tâm liên nhất trong toàn khu vực. Vào những năm 80, cây được trồng ở nhiều địa phương ở miền Bắc Việt Nam; sau đó giảm xuống, gần đây lại tiếp tục được khôi phục, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc.

Xuyên tâm liên mọc từ hạt vào khoảng tháng 4 hoặc đầu tháng 5. Cây sinh trưởng nhanh trong mùa xuân – hè. Khi cây sắp ra hoa, lá nhỏ đần và rụng sớm. Quả xuyên tâm liên lúc già tự mở cho hạt thoát ra ngoài. Xuyên tâm liên là cây ưa sáng, hoặc có thể bị che bóng một phần trong ngày.

Cách trồng

  • Xuyên tâm liên ưa khí hậu nóng ẩm, sinh trưởng mạnh vào mùa xuân, hè, mùa đông cây tàn lụi, được trồng ở nhiều tỉnh phía Bắc.
  • Cây được nhân giống bằng hạt. Quả xuyên tâm liên chín rải rác. Bắt đầu từ tháng 9-10, khi quả vàng cần thu về (để quá già, vỏ quả bị tách ra, hạt rụng), phơi khô, đập lấy hạt, bảo quản đến tháng 2-3 năm sau đem gieo. Có thể gieo thẳng hoặc gieo trong vườn ươm. Hạt mọc sau 7-10 ngày.
  • Xuyên tâm liên ưa đất nhẹ, cát pha, thoát nước, không chịu úng. Đất cần cày bừa, để ải, đập nhỏ, lên luống cao 20 – 25 cm, rộng 0,9 – 1 m, mỗi hecta bón lót 10 – 15 tấn phân chuồng hoại rồi trồng với khoảng cách 20 x 30 cm hoặc 30 x 30 cm. Trồng lấy hạt nên trồng thưa hơn, khoảng 30 x 40 cm đến 40 x 40 cm.
  • Thời gian đầu, cần tưới đủ ẩm, làm cỏ, xới xáo, vun gốc thường xuyên. Mỗi tháng, bón thúc 80 – 100 kg đạm cho 1 ha. Nếu có điều kiện, nên dùng nước phân, nước giải pha loãng tưới thay đạm.
  • Cây có thể bị một số sâu thông thường hại lá. Cần chú ý phòng trị kịp thời.
  • Lá thu lúc cây bắt đầu ra nụ, toàn cây thu lúc cây bắt đầu nở hoa. Có thể dùng tươi hoặc phơi hay sấy nhẹ đến khô để dùng dần.

Bộ phận dùng

Phần trên mặt đất loại bỏ tạp chất, rửa sạch, thái thành từng đoạn, rồi phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học

Xuyên tâm liên chứa 2 nhóm hoạt chất chính là diterpen lacton và flavonoid.

Các diterpen lacton là andrographolid, deoxyandrographolid, neoandrographolid, homoandrographolid, 14 – deoxy – 11 – oxoandrographolid, 14 – deoxy – 11 – 12 – didehydro – andrographolid, andrographosid, 14 deoxyandrographosid, deoxyandrographolid – 19 – β – D – glucosid, 14 – deoxy – 12 – methoxyandrographolid, andrograpanin, andropanosid, ent – 14β – hyđroxy – 8 (17), 12 – labadien -15, 16 – olid – 3 β, 19 – oxyd.

  • Hàm lượng andrographolid ở lá là 2,6%, ở thân là 0,1 – 0,4%. Lá chứa hơn 2% andrographolid trước khi cây ra hoa, sau đó chỉ còn dưới 0,5%. Theo quy định của Dược điển Trung Quốc 1997 (bản in tiếng Anh) xuyên tâm liên chứa không được dưới 0,4% dehydroandrographolid.
  • Xuyên tâm liên còn có andrographisid, deoxyandrographisid, 14 – deoxy – 11, 12 – dihydroandrographisid, 6′ – acetyl neoandrographolid.
  • Một dẫn chất của andrographolid tan trong nước là sản phẩm cộng với Na bisulflt có được dùng làm thuốc hạ sốt.

Các flavonoid là 7 – O – methylwogonin, wogonin, oroxylin A, apigenin – 7, 4′ – dimethyl ether, andrographin, paniculin, mono – O – methylwithin.

Rễ còn có 2’, 5 – dihydroxy – 7, 8 – dunethoxyisislavon – 2′ – o – p – D – glucosid và 3β- hyđroxy – 5 – stigmasta – 9 (11), 22 (2P) – đien (CA. 124: 312. 288x).

Ngoài ra, xuyên tâm liên còn có các chất khác là andrographan, anđrographon, andrographosterin, panicolid, p – sitosterol – D – glucosid, a – sitosterol, acid cafeic, carvacrol, eugenol, acid myristic, hentriacontan, tritriacontan.

Tác dụng dược lý

Tác dụng chống viêm

Trong mô hình gây phù bàn chân chuột cống trắng với caragenin, lá xuyên tâm liên (cao nước hãm) cho chuột uống vối liều 51,4 mg/100g thể trọng, có tác dụng chống viêm tương tự như tác dụng của 10 mg phenylbutazon /100g chuột. Andrographolid với liều 100 hoặc 300 mg/kg cũng có hoạt tính chống viêm và ức chế đáng kể phù chân chuột gây bởi caragenin, kaolin và nystatin.

Ngoài ra, cao cồn kích thích phản ứng miền dịch cả đặc hiệu với kháng nguvên và không đặc hiệu ở chuột nhắt trắng mạnh hơn andrographolid tinh chế. Cao cồn cho chuột cống trắng gây sốt bằng men bia uống có hoạt tính hạ sốt rõ rệt. Andrographolid với liều 100 – 300 mg/kg cũng có tác dụng hạ sốt trên chuột cống trắng.

Tác dụng giảm đau

Trong thử nghiệm về tác dụng giảm đau trên chuột nhắt trắng, cao nước hãm 10% lá xuyên tâm liên với liều 8 mg/kg tiêm phúc mạc có tác dụng tương tự như liều 48 mg/kg phenylbutazon. Với liều uống 300 mg/kg, andrographolid tinh chế có hoạt tính giảm đau đáng kể trong thử nghiệm gây quặn đau với acid acetic ở chuột nhắt trắng và thử nghiệm Randall Selitt ở chuột cống trắng.

Tác dụng hạ sốt

Trong một thử nghiệm lâm sàng mù kép có kiểm chứng với placebo, đã đánh giá tác dụng điều tri cảm sốt và viêm xoang của một cao xuyên tâm liên được tiêu chuẩn hóa trên 50 bệnh nhân. Lúc đầu cho bệnh nhân uống mỗi lần 340 mg cao, ngày 3 lần, sau đó bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc theo chỉ dẫn. Sau 5 ngày điều trị, các triệu chứng chủ quan và thời gian có các triệu chứng giảm đáng kể.

Ở một nghiên cứu mù kép khác, bệnh nhân cảm sốt được điều tri với cao xuyên tâm liên (liều 1,2 g bột lá/ ngày). Các triệu chứng lâm sàng giảm rõ rệt ở nhóm điều trị ở ngày thứ 4 sau khi uống thuốc, thời gian cảm sốt giảm đáng kể. Trong một nghiên cứu mù kép ngẫu nhiên hoá trên bệnh nhân có viêm họng – amiđan, liều bột lá xuyên tâm liên 6g/ ngày và paracetamol 3g/ ngày có tác dụng tốt hơn liều xuyên tâm liên 3g/ ngày về giảm sốt và giảm viêm họng ở ngày thứ ba. Ở ngày thứ bảy, các tác dụng lâm sàng không còn khác nhau. Ngoài ra, có những tác dụng phụ nhẹ tự hết ở khoảng 20% bệnh nhân ở mỗi nhóm. Trong thử nghiệm cho học sinh nhỏ uống trong 3 tháng, mỗi ngày 2 viên cao xuyên tâm liên được tiêu chuẩn hóa, có nhóm placebo để so sánh, xuyên tâm liên đã có tác dụng làm giảm tỷ lệ học sinh bị cảm lạnh; điều này cho thấy thuốc có tác dụng dự phòng cảm lạnh.

Tác dụng hạ huyết áp

Cao nước thô xuyên tâm liên, và các phân đoạn n – butanol và nước gây giảm đáng kể huyết áp động mạch ở chuột cống trắng Sprague – Dawly gây mê; các liều có tác dụng ED5U là 11,4 mg/kg; 5,0 mg/kg và 8,6 mg/kg, tương ứng. Cao nước có tác dụng hạ áp phụ thuộc vào liều trên huyết áp tâm thu ở chuột cống trắng có tăng huyết áp tự nhiên, khi được truyền mạn tính vào phúc mạc bằng bơm thẩm thấu. Cơ chế tác dụng có thể do giảm nồng độ men chuyển angiotensin lưu hành và giảm một số gốc tự do trong thận. Ngoài ra, nước hãm 10% xuyên tâm liên tiêm tĩnh mạch cho thỏ có tác dụng làm giảm huyết áp trong 10-20 giây.

Tác dụng giảm cholesterol

Cao xuyên tâm liên làm giảm bớt đáng kể hẹp lỗ động mạch chậu do vữa xơ gây bằng chế độ ăn giàu cholesterol ở thỏ. Do đó xuyên tâm liên có vai trò quan trọng dự phòng tái phát hẹp sau tạo hình mạch vành, thường là 30 – 40%. Ở chó có nhồi máu cơ tim thực nghiệm, cao nước hạn chế sự phát triển của thiếu máu cục bộ cơ tim khu trú và có tác dụng bảo vệ rõ rệt đối với thiếu máu cục bộ cơ tim có thể hồi phục. Tiêm tĩnh mạch cao chiết flavon từ rễ xuyên tâm liên cho chó, đã có tác dụng làm tăng tổng hợp PG12, ức chế sản sinh thromboxan A2, kích thích tổng hợp adenosin monosphosphat vòng ở tiểu cầu, ngăn cản sự ngưng tập tiểu cầu, và do đó dự phòng sự tạo thành cục huyết khối và sự phát triển nhồi máu cơ tim.

Tác dụng trên gan

Khi tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng với liều 100 mg/kg, andrographisid và neoandrographolid có tác dụng bảo vệ có ý nghĩa chống sự nhiễm độc gan gây bởi carbon tetraclorid. Andrographolid cũng có tác dụng bảo vệ gan chống thương tổn gan gây bởi galactosamin và paracetamol ở chuột cống trắng, gây tăng tiết mật, chống ứ mật; làm tăng khả năng sống của tế bào gan trong thử nghiệm thải trừ xanh trypan và hấp thụ oxy. Andrographolid làm bình thường hóa những trị số biến đổi của GOT, GPT và phosphatase kiềm ở tế bào gan và huyết thanh. Andrographolid có tác dụng mạnh hơn silymarin, một thuốc bảo vệ gan đã được biết rõ.

Tác dụng trên hồi tràng và dạ dày

Cao xuyên tâm liên có hoạt tính chống tiêu chảy ở mô hình khúc thắt hồi tràng. Các diterpen andrographolid và neoandrographolid phân lập từ cao cồn có hoạt tính kháng tiết mạnh đối với tiết dịch gây bởi toxin ruột của Escherichia coli. Andrographolid với liều 100 – 300 mg/kg có tác dụng chống loét ở chuột cống trắng.

Ngoài ra, apigenin 7, 4′ – di – o – methyl – ether (một flavonoid) có tác dụng chống loét dạ dày gây thực nghiệm ỏ chuột lang và chuột cống trắng; cơ chế có thể do hoạt tính chống tiết và tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Cao cloroform cho chuột cống trắng uống với liều 8 mg/kg có tác dụng lợi tiểu tương tự 25 mg furosemid/kg. Cao cồn thân rễ xuyên tâm liên có tác dụng diệt giun đũa in vitro.

Tác dụng hạ đường huyết

Cao nước với liều 10 mg/kg có khả năng dự phòng tăng đường máu gây bởi glucose ở thỏ, nhưng không có tác dụng trên tăng đường máu gây bởi ađrenalin. Nước hãm 20% cho thỏ uống với liều 12,5 và 37,5 ml/kg có tác dụng gây hạ đường máu. Bột lá khô xuyên tâm liên, cho chuột cống trắng đực uống với liều 20 mg trong 60 ngày, có tác dụng chống sinh sản (chống sinh tinh trùng và/ hoặc kháng androgen). Neoandrographolid từ xuyên tâm liên có tác dụng chống sốt rét có ý nghĩa đối với Plasmodium berghei NK 65 ở chuột nhắt trắng.

Tác dụng ức chế vi khuẩn, virus

Dẫn chất dehydroandrographolid succinic acid monoester từ andrographolid có tác dụng ức chế siêu vi khuẩn gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) in vitro.

Xuyên tâm liên có tác dụng ức chế các chủng vi khuẩn: Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Shigella dysenteriae, Shigella shigae và Mycobacterum tuberculosis. Hoạt chất có tác dụng với Shigella tan trong nước, hoạt chất có tác dụng với các chủng còn lại tan trong cồn cao độ. Xuyên tâm liên dùng liều cao và kéo dài có tác dụng giảm sự tạo kháng thể. Xuyên tâm liên đã được thử nghiệm lâm sàng về tác dụng điều trị viêm phế quản cấp và mạn. Đối với viêm phế quản mạn (đa số là ở người lớn), kết quả tốt ở gần 80% trường hợp, ho và khối lượng đờm giảm, số ngày ho khạc trong mỗi đợt ít đi, khoảng cách giữa các đợt viêm xa hơn. Một số trường hợp thấy bớt tức ngực, khó thở. Đối với viêm phế quản cấp, chủ yếu là ở trẻ em, thời gian lành bệnh rút ngắn hơn và đối với trẻ thường bị nhiều đợt tiến triển trong năm, nếu dùng thuốc trong cả thời gian bình thường (dự phòng bằng uống 10 ngày trong tháng), các đợt viêm cấp trở nên thưa hơn.

Trong điều trị lao phổi, so sánh với công thức IPS (INH, pyrazinamid, streptomycin trong 3 tháng), công thức IPP (trong đó viên Panilin bào chế từ xuyên tâm liên thay cho streptomycin) và công thức ISP (trong đó Panilin thay pyrazinamid), được áp dụng điều tri cho bênh nhân lao phổi đã cho những kết quả tương tự. Các cao chiết từ xuyên tâm liên với cloroform hoặc methanol và andrographolid natri sucinat, thử nghiệm in vitro trên mô lá muôi phôi của người mang thai 6 – 8 tuần, có tác dụng ức chế sự sản sinh gonadotropin rau thai và progesteron từ mô lá nuôi phôi nuôi cấy in vitro. Cao chiết có tác dụng gây sảy thai.

Phân đoạn tan trong nước của cao cồn toàn cây được thử nghiệm trên chuột nhắt trắng chống lại nọc rắn mang bành. Tiêm cao thuốc cho chuột 30 phút trước khi tiêm nọc rắn. Cao xuyên tâm liên chỉ kéo dài thời gian sống của chuột nhắt mà không có tác dụng bảo vệ. Cũng đã nghiên cứu tác dụng kích thích phó giao cảm của cao xuyên tâm liên trên huyết áp chó, tim ếch tại chỗ, hồi tràng chuột lang và trực tràng ếch; cao này không có hoạt tính trên thụ thể nhận nicotin, mà chỉ có tác dụng trên thụ thể nhận muscarin.

Tác dụng tế bào ung thư

Nhiều diterpenoid thuộc típ ent – labdan (ví dụ: andrographolid, 14 – epi – andrographolid, isoandrographolid, 12 – epi – 14 – deoxy – 12 – methoxy – andrographolid) gây cảm ứng mạnh sự biệt hóa tế bào đối với tế bào Mt. Nói chung hoạt tính của các dimer (bis – andrographolid A, B, C) mạnh hơn trong mô hình này; các glucosid có hoạt tính yếu hơn. Cao ether từ lá xuyên tâm liên có hoạt tính chống alkyl hóa khá cao đối với ethyl – methan sulíbnat. Nói chung, các chất chống alkyl hóa kết hợp với hoạt tính chống gây ung thư.

Cao hãm lá tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng có LD50= 71,1 mg/ 10g thể trọng (độc tính cấp). Xuyên tâm liên với liều 20, 200 và 1.000 mg/kg cho hàng ngày cho chuột cống trắng đực trong 60 ngày, đã không gây độc tính mạn tính trên tinh hoàn chuột, với việc đánh giá bằng theo dõi trọng lượng cơ quan sinh sản, mô học tinh hoàn, phân tích siêu cấu trúc tế bào Leydig và nồng độ testosteron. Nước sắc xuyên tâm liên ủ với một dung treo chứa tế bào H9 và virut HIV (virut này được lấy ra từ tế bào H9 bị nhiễm HIV mạn tính). Sau 4 ngày ủ ở nhiệt độ ấm, các tế bào được nhuộm và soi tìm kháng nguyên HIV bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, thấy xuyên tâm liên có hoạt tính kháng HIV, làm giảm tỷ lệ tế bào bị nhiễm virut so với đối chứng.

Tính vị, công năng

Xuyên tâm liên có vị rất đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, giảm đau.

Công dụng

Xuyên tâm liên được dùng trị lỵ cấp tính, viêm dạ dày, viêm ruột, cảm mạo, phát sốt, viêm họng, viêm amiđan, viêm phổi, rắn độc cắn. Ngày dùng 10 – 15g lá dưới dạng thuốc sắc uống. Nếu tán bột, mỗi lần uống 2 – 4 g, ngày 2-3 lần.

Để chữa viêm miệng, viêm họng, dùng vài lá nhai ngậm. Dùng ngoài, lá xuyên tâm liên một nắm giã với rượu xoa đắp phối hợp với uống thang thuốc có xuyên tâm liên, kim ngân hoa, sài đất, chữa lở ngứa rôm sảy, sưng tấy, nhiễm trùng ngoài da, vết thương, rắn cắn.

  • Trong y học Trung Quốc, xuyên tâm liên được dùng điều tri cảm cúm với sốt, viêm họng, viêm thanh quản, loét miệng, loét lưỡi; ho cấp tính hoặc mạn tính, viêm ruột kết, ỉa chảy, lỵ, nhiễm khuẩn đường tiết niệu với tiểu tiện khó và đau; mụn nhọt, lở loét, rắn độc cắn. Ngày 6 – 9g. Dùng ngoài với lượng thích hợp.
  • Rễ và lá xuyên tâm liên được dùng phổ biến trong y học cổ truyền Ấn Độ, và nhiều vùng ở Đông Nam Á, Trung Mỹ và vùng Caribê; thường được dùng làm thuốc trị rắn và sâu bọ cắn. Nước hãm hoặc nhựa từ lá vò nát được dùng trị sốt, ban da ngứa và làm thuốc bổ. Nước sắc lá hoặc rễ được dùng trị đau dạ dày, lỵ, bệnh sốt do Rickettsia, bệnh tả, cúm, viêm phế quản, làm thuốc tẩy giun và lợi tiểu. Còn được dùng làm thuốc đắp chữa sưng chân, bệnh bạch biến và trĩ. Viên hoàn hoặc thuốc hãm được dùng điều trị rối loạn kinh nguyệt, khó tiêu, tăng huyết áp, thấp khớp, bệnh lậu, vô kinh, bệnh gan và vàng da.
  • Ở Ấn Độ, để chữa ho gà, cho trẻ uống mỗi lần một thìa cà phê bột nhão bào chế từ rễ xuyên tâm liên và thân rễ gừng gió, trọng lượng bằng nhau, ngày 3 lần, trong 15 ngày. Lá khô xuyên tâm liên cùng với tỏi được tán bột làm thành viên hoàn to bằng hạt đậu Hà Lan, uống mỗi lần 1 viên, ngày 3 lần, trong 3-7 ngày để chữa sốt rét. Xuyên tâm liên cũng được dùng trong thành phần của phương thuốc cổ truyền Ấn Độ để chữa rụng tóc dưới dạng thuốc sắc uống.
  • Ở Nepal để trị áp xe, người ta dùng một nắm lá bánh tẻ xuyên tâm liên và một ít muối, giã và trộn với nửa cốc nước. Gạn dịch nổi lên trên và uống ngày một lần, bã đắp lên chỗ bị áp xe.

Bài thuốc có xuyên tâm liên

1. Chữa lỵ trực khuẩn cấp tính, viêm dạ dày, viêm ruột, cảm sốt, sưng lấy, rắn độc cắn: Xuyên tâm liên 15g; kim ngân hoa, sài đất mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang.

2. Chữa viêm phổi, sưng amidan: Xuyên tâm liên 12g; huyền sâm, mạch môn, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang.

3. Chữa viêm gan nhiễm khuẩn: Xuyên tâm liên 3g, cỏ nhọ nồi 6g, diệp hạ châu đắng 3g. Sắc uống ngày một thang trong 2-4 tuần.

4. Chữa bỏng (giai đoạn hồi phục của bệnh):

  • Xuyên tâm liên 200g. Nấu với 500 ml nước, rửa hàng ngày.
  • Xuyên tâm liên, hoàng bá, xà sàng tử, mỗi vị 100g. Nấu với 600 ml nước, rửa hàng ngày.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/xuyen-tam-lien.html/feed 0
Thanh yên https://tracuuduoclieu.vn/thanh-yen.html https://tracuuduoclieu.vn/thanh-yen.html#respond Tue, 26 Mar 2019 01:56:42 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=30121

Mô tả

  • Cây nhỏ hay cây nhỡ, không gai hoặc có gai ngắn nằm ngang. Lá mọc so le, hình bầu dục, dài 6 -11 cm, rộng 4-6 cm, gốc tròn, đầu tù, mép có răng cưa; cuống lá dài khoảng 1 cm, không có cánh.
  • Cụm hoa mọc thành chùm 2-3 hoa, đôi khi mọc đơn độc; hoa màu trắng, hơi đốm tía hoặc tím; đài 5 rãnh hình tam giác nhẵn; tràng 5 cánh nhẵn; nhị 4-8; bầu hình trứng.
  • Quả to, hình trái xoan, núm quả lõm, đầu nhô cao, vỏ ngoài dày sần sùi, khi chín màu vàng tươi, cùi xốp màu trắng, ruột nhỏ, múi bé, có vị chua, hơi đắng.
  • Mùa hoa quả: tháng 2-8.

Phân bố, sinh thái

  • Thanh yên có thể có nguồn gốc từ vùng cận Himalaya thuộc Đông – Bắc Ấn Độ đến Mianma. So với các loài quả có múi khác (cùng chi Citrus), thanh yên tuy là cây ít quan trọng, song lại được trồng sớm nhất ở châu Âu (Italia, Hy lạp và Pháp) và Trung Quốc. Hiện nay, cây gặp phổ biến ở nhiều nuớc nhiệt đới khác như Việt Nam, Nhật Bản, Lào, Thái Lan, Malaysia, Campuchia… Cây được trồng nhiều ở các tỉnh phía bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phúc…
  • Thanh yên là cây ưa sáng và ưa ẩm. Cây trồng ở Việt Nam tỏ ra thích nghi với vùng có khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình từ 19 đến 22°C. Về mùa đông, cây rụng lá và có thể chịu được nhiệt độ thấp khoảng 10 hoặc 7°C. Cây ưa loại đất có thành phần cơ gió  nhẹ, dễ thoát nước, sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè; mùa hoa đồng thời với lúc có lá non; mùa quả kéo dài đến 8 hoặc 9 tháng. Vòng đời của cây có thể tới 25 năm.

Bộ phận dùng

  • Quả, thu hái lúc có màu vàng tươi, đem cắt đọc thành từng miếng hoặc bổ ngang thành khoanh với chiều dày 0,5 – 1 cm, phơi hoặc sấy nhẹ cho khô (tránh phơi nắng to hoặc dùng lửa mạnh để bảo đảm phẩm chất, hương vị). Không phải chế biến.
  • Còn dùng rễ và lá, thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.

Thành phần hóa học

  • Từ vỏ quả thanh yên, người ta chiết đươc một loại tinh dầu giàu limonen, dipenten, một chất phát quang citrapten, chtral, một aldehyd… Cùi quả chứa hesperosid như chanh. Hoa có tinh dầu như tinh dầu cam (Võ Văn Chu Từ điển cây thuốc Việt Nam – 1135).
  • Theo Trung dược chí (cuốn 3 phần 1 trang 64), vở quả có tinh dầu 6,5 – 9% chứa citral, limonen, dipcnten; phcmanthren, acetat gcranyl, acetat linallyl; ngoài ra còn hesperidin, pectum,
  • Ruột có acid citric, hạt chứa limonin, obacunon và momilim citrusin.
  • Nomilin là limonoid chính (chất đắng chủ yếu) có trong các bô phận của quả nhưng cao nhất trong hạt (C.A. 119 1993, 11420 b).

Tác dụng dược lý

Citrusin được thí nghiệm trên chuột cống trắng bằng đường tiêm tĩnh mạch với liều 10 mg/kg có tác dụng chống tăng huyết áp.

Tính vị, công năng

Thanh yên có vị cay, đắng, chua, hơi ngọt, tính ôn, vào các kinh can, phế, tỳ, có tác dụng lý khí, bài hơi, thư uất, hóa đờm, chống nôn, giúp tiêu hóa.

Công dụng

  • Trong thực phẩm, cùi quả thanh yên ngâm trong đường rồi chế thành mứt có mùi thơm đặc biệt rất được ưa chuộng. Theo y văn cổ truyền, thanh yên được dùng chữa đau tức hơi vùng dưới tim (tâm hạ khí thống), ho có đờm (đàm ẩm khái thấu), nôn mửa do hơi đưa ngược lên (khí nghịch ẩu thổ).
  • Vỏ và cùi quả thanh yên nhai nuốt nước, sẽ làm tan đờm kết để chữa ho.
  • Liều dùng: 3-9 g/ngày, dưới dạng thuốc sắc, hoặc chế thành hoàn tán. Lá và rễ cây thanh yên sắc nước uống cũng có tác dụng chữa các bệnh trên. Dịch quả thanh yên được dùng chữa bệnh hoại huyết, giun sán, nôn mửa. Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ thanh yên trị giun, táo bón, nôn mửa, sỏi niệu đạo.

Bài thuốc có thanh yên

Chữa ợ hơi, nôn mửa, kém ăn:

  • Thanh yên 2 quả, xuyên bối 90 g, đương quy (sao) 45 g, bạch thông thảo 30 g, tây qua bì 30 g, cát cánh 9g.
  • Tất cả thái nhỏ, sắc thành dịch đặc, chế thành hoàn, mỗi lần uống 9 g với nước đun sôi để nguội (tài liệu Trung Quốc)
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/thanh-yen.html/feed 0
Xoan rừng https://tracuuduoclieu.vn/xoan-rung.html https://tracuuduoclieu.vn/xoan-rung.html#respond Fri, 22 Mar 2019 04:04:40 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=30012 Mô tả
  • Cây nhỏ, mọc thành bụi, cao 1 – 2m. Thân mềm, lúc non có lông, sau nhẵn và có màu nâu nhạt. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 7 – 9 lá chét mọc đối, hình trứng, gốc tròn, đầu nhọn, mép có răng thô tù, hai mặt có lông mềm, dày hơn ở mặt dưới; cuống lá dài có lông.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm xim; hoa nhỏ, đơn tính, khác gốc; lá bắc nhỏ dễ rụng; đài 4 răng hình mác; tràng 4 cánh thuôn, có lông tuyến ở đầu; hoa đực có 4 nhị, nhụy tiêu giảm; hoa cái có 4 nhị rất ngắn, bầu có 4 lá noãn rời, đầu uốn cong, mỗi ô chứa 1 noãn.
  • Quả hạch, hình bầu dục, khi chín màu đen; hạt hình trứng dẹt, màu nâu đen, vị rất đắng.
  • Mùa hoa: tháng 3 – 4; mùa quả: tháng 5-6.

Phân bố, sinh thái

Chi Brucea J. F. Mill, có 3 loài ở Việt Nam, trong đó 2 loài được dùng làm thuốc là xoan rừng (B. javanica (L.) Merr.) và mạy téc (B. mollis Wall. ex Kurz). Xoan rừng phân bố từ vùng Nam Á, gồm Ân Độ, Xrilanca sang phía đông là Campuchia, Việt Nam, đảo Hải Nam Trung Quốc. Xuống phía nam, cây trở nên hiếm dần ở Thái Lan, Malaysia, đảo Molucca (Indonesia) và Australia. Có tài liệu cho rằng, xoan rừng có mặt ở Malaysia là do nhập trồng.

Ở Việt Nam, xoan rừng phân bố rải rác khắp các tỉnh thuộc vùng trung du, núi thấp (dưới 600 m) và cả ở đồng bằng. Cây mọc tập trung nhiều nhất ở các tỉnh dọc ven biển, từ Quảng Ninh đến Đồng Nai. Xoan rừng cũng gặp nhiều ở tất cả đảo lớn như Cát Bà, Hòn Mê, Lý Sơn, Hòn Hèo, Côn Đảo và Phú Quốc. Xoan rừng là cây ưa sáng, chịu được khô hạn và nắng nóng, thường mọc lẫn trong các quần xã cây bụi ở đồi, nương rẫy, ven rừng núi đá vôi. Ở các vùng đồng bằng từ Thanh Hóa trở vào, xoan rừng mọc lẫn trong các lùm bụi quanh làng. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, kể cả đất đồi khô cằn cũng như loại đất cát ở các truông gai ven biển. Xoan rừng có hoa quả rải rác gần như quanh năm, song mùa hoa quả chính của cây ở các tỉnh phía nam thường sớm hơn ở phía bắc khoảng một tháng. Hoa xoan rừng thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng, tái sinh tự nhiên tốt từ hạt. Khi cây bị chặt phá, phần còn lại vẫn có khả năng sinh cây chồi.

Bộ phận dùng

Quả chín loại bỏ vỏ và tạp chất phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học

Quả xoan rừng chứa albumin độc, brutoxin, alcaloid (brucamarin), dầu béo 20 – 23%, trong dó có acid oleic, triglycerid, acid béo 26 c, acid brucelic, ngoài ra còn có tinh dầu, saponin.

Xoan rừng chứa nhiều quassinoid đắng là thành phần chính. Quassinoid thuộc nhóm diterpen mạch vòng gọi là picrasan.

Xoan rừng còn chứa các glycosid của quassinoid như các brucein A – H và Q, các dehydrobucein A và B 3, 4 – dihydrobrucein A, brusatol (yatansin), dehydrobrusatol, bruceantin, bruceantinol, dehydrobruceantinol, bruceantarin, acid bruceacetolic, bruceen, các bruceosid A – F, yadanziolid A – c, yadanjiosid A – K và M – p và yadanzigan, bruceantinosid A, bruceolid, dehydrobruceantinol, yadanzigan, yadanziolid A – D, yadanziosid A – p.

Thân cây chứa 3 triterpenoid nhóm apotirucallan: bruceajavanin A, dihydrobruceajavanin A, bruceajavanin B và một alcaloid glycosid là bruceacanthinosid (CA 122: 128592 z).

Lá có glycosid (20 R) – o – (3) – a – L. arabinopyranosylpyranosyl – pregn – 5 – en – 3 ß, 20 – diol (CA 122: 261 086 d).

Bằng nuôi cấy mô, nhiều chất đã được lạo ra là 5,11 – dimethoxycanthin – 6 – 011, canthin – 6 – on – 3 – N oxyd, 11- hydroxycanthin – 6 – on, canthin – 6 – 011, 5 – methoxycan – thin – 6 – on và 11 – methoxycanthin – 6 – on (CA 120: 101 909 e).

Hàm lượng chất chiết tan trong nước không được dưới 18%, trong ethanol loãng không dưới 26%. Hàm lượng chì và cadmi không quá theo thứ tự 10,0 và 0,3 mg/kg.

(WHO monographs on selected medicinal plants, vol. I, 1999).

Tác dụng dược lý

Các hợp chất quassinoid phân lập từ quả xoan rừng có tác dụng tri lỵ amíp, sốt rét và chống ung thư. Hoạt chất bruceantin có tác dụng kháng amíp, chống sốt rét và ung thư; hoạt tính chống sốt rét không chỉ đơn thuần do tác dụng độc hại tế bào. Ngoài ra, các quassinoid (ví dụ: brusatol) từ quả, cũng như các triterpenoid bruceajavanin A, dihydrobruceajavanin A và bruceajavanin B (từ thân xoan rừng) đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự phát triển của chủng kháng cloroquin Plasmodium falciparum Kj in vitro. Một số quassinoid (brucein A, B, và D, brusatol) cũng có hoạt tính chống nhiễm p. berghei in vivo ở chuột nhắt trắng sau khi cho uống. Cuối cùng, các quassinoid brucein A, B và c có trong cao cloroform từ quả xoan rừng có hoạt tính rất mạnh in vitro chống lại chủng p. falcifarum kháng nhiều thuốc với liều ức chế ID30 là 8,66; 8,15, và 1,95 nanogam/ml, tương ứng, so với 6,26 nanogam/ml của mefloquin.

Các quassinoid: bruceolid, bruceantin và bruceantinol có hoạt tính ức chế đối với bệnh bạch cầu Iympho vả carcinom phổi. Các bruceosiđ A và B có độc tính gây chết khi cho chuột nhắt trắng cao methanol xoan rừng. Bruceosid c có hoạt tính độc hại tế bào mạnh chống các dòng tế bào khối u KB, A – 549, RPMI và TE – 671. Các bruceosid D, E và F có hoạt tính độc hại tế bào chọn lọc trong bệnh bạch cầu và một số dòng tế bào ở phổi, ruột kết, hệ thần kinh trung ương, u hắc sắc tố và ung thư buồng trứng. Các quassinoid khác của xoan rừng có tác dụng độc hại tế bào, có khả năng dùng điều trị ung thư gồm brusatol và các yadanziosid A – H, o và p.

Những nhận xét lâm sàng về tác dụng cải thiện các triệu chứng lâm sàng sau khi tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân có di căn ở não từ ung thư phổi nhũ dịch dầu xoan rừng đã được xác nhận trong thực nghiệm trên thỏ bởi những kết quả dương tính trên tăng huyết áp trong sọ. Cao thô xoan rừng rất có hiệu quả chống ký sinh trùng bên trong Blastocystis hominis ở nồng độ 500 Hg/ml, so với 10 Ịig/ml đối với metronidazol. Bruceosid D có hoạt tính chống lao in vitro, tuy vậy hoạt tính trên vi sinh vật thử nghiệm Mycobacterium tuberculosis thấp, với mức độ ức chế 7% ỏ 12,5 |ig/ml. Đối với brusatol và bisbrusatolyl malonat, giống như với bruseantin, có sự tương quan chặt chẽ giữa hoạt tính kháng bệnh bạch cầu và khả năng ức chế sự tổng .hợp protein ở tế bào bệnh bạch cầu lympho P388. Các quassinoid kháng bệnh bạch cầu từ xoan rừng và các este của chúng, tuy vậy, không phải là những chất ức chế tổng hợp protein chung. Những chất này có tính chọn lọc đối với một số típ ung thư như bệnh bạch cầu lympho P388 và bệnh bạch cầu lymphô L1210, và một số mô bình thưòng. Trong nghiên cứu hoạt tính kháng amíp của một số quassinoid, bruceantin có tác dụng mạnh nhất chống Entamoeba histolytica với ED5Ũ là 0,018 Ịig/ml; hoạt tính này mạnh gấp 30 lần so vói metronidazoI.

Các bruceolid cũng có tác dụng chống viêm trên những mô hình gây viêm và viêm khớp thực nghiệm ở loài gậm nhấm; brusatol có tác dụng mạnh nhất, tiếp theo là brucein D. Một trong những cơ chế tác dụng là gây ổn định màng thể tiêu bào, giảm sự giải phóng các enzym thủy phân gây tổn hại các mô bao quanh. Sau khi dùng bên ngoài quả xoan rừng, đã xảy ra phản ứng phản vệ ở một số ca, ví dụ một bệnh nhân dùng quả xoan rừng để điều tri hột cơm cảm thấy tê ở môi và ngứa da toàn thân, 5 phút sau khi nhai quả, tiếp theo là đánh trống ngực, co cứng cơ bụng mạnh và nôn.

Liều chết LD50 của bruceantin tiêm tĩnh mạch cho chuột nhắt trắng đực và cái là 1,95 và 2,85 mg/kg, tươg ứng. Năm mũi tiêm hàng ngày 0,025 mg hoặc hơn bruceantin gây kích thích từ nhẹ đến vừa ở cơ thỏ và mô dưới da chuột lang. Braceantin gây những triệu chứng lâm sàng ở chó và khỉ gợi ý sự tăng độ thấm của mạch máu. Liều không gây độc cao nhất là 0, 0625 mg/kg bruceantin ở chó. Các cao từ nhân hạt có hoạt tính kháng khuẩn đối với các vi khuẩn: Shigella shigae, S. Ịỉexneri, Sh. boydii, Salmonella lexington, Saỉm. derby, Salm. typhi típ II, Vibrio cholerae Inaba và Vibrio cholerae Ogawa.

Tính vị, công năng

Quả xoan rừng có vị đắng, tính mát, hơi có độc, vào kinh đại trường, có tác dụng sát trùng, tiêu độc, chỉ lỵ.

Công dụng

Quả xoan rừng được dùng chữa lỵ amíp, sốt rét. Ngày dùng 4 – 6g, dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột. Dùng ngoài chữa trĩ ngoại (giã nát nhân hạt hoặc ép lấy dầu đắp và bôi ngoài).

Xoan rừng có độc, uống quá liều có thể gây đau bụng, nôn mửa, kém ăn, người mệt.

Kiêng kỵ: Suy nhược toàn thân, tỳ vị hư hàn không nên dùng.

Muốn giảm độc tính của xoan rừng, dùng nhân hạt đã ép loại bỏ hết dầu. Lá xoan rừng được dùng nấu nước tắm chữa ghẻ và giã nhỏ đắp chữa trĩ ngoại. Rễ xoan rừng phối hợp với rễ na và lá cây ngâu rừng sắc uống chữa sốt rét.

Theo tài liệu của Tổ chức y tế thế giới; các dược điển và hệ thống y học cổ truyền dùng quả xoan rừng điều trị lỵ amíp và sốt rét; và theo y học dân gian dùng làm thuốc đắp trị nhọt, bệnh nấm da, giun tóc, giun đũa, sán dây, vẩy cám ở da, rết cắn, trĩ, lách to. Hạt và dầu hạt trị hột cơm và chai chân tay. Quả xoan rừng điều trị bệnh do Trichomonas, hột cơm và mụn cóc.

Liều uống quả xoan rừng mỗi ngày để điều trị lỵ amíp là 4 – 6g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột, chia làm 3 lần uống, trong 3-7 ngày; để điều trị sốt rét: 3 – 6g chia làm 3 lần uống sau bữa ăn, trong 4-5 ngày.

Chống chỉ định: không dùng quả xoan rừng cho trẻ em, phụ nữ mang thai và phụ nữ cho con bú.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, quả chín xoan rừng là thuốc trị sốt rét và lỵ. Dùng ngoài để điều trị hột cơm và mụn cóc. Trong y học dân gian Ân Độ, xoan rừng phối hợp với các vị khác trị trĩ, hột cơm, mụn cóc, loét và ung thư. Lá dùng đắp trị lách to, vảy cám (da), bệnh nấm da, nhọt và rết cắn. Nước sắc lá trị đau bụng, ho và ngộ độc. Ở một số nước Đông Nam Á, nhân dân dùng hạt và rễ xoan rừng trị lỵ amíp, tiêu chảy, sốt rét và sốt. Ở Australia, thổ dân dùng xoan rừng trị đau răng.

Bài thuốc có xoan rừng

Chữa lỵ cấp tính (thường gặp ở lỵ do amíp):

  • Quả xoan rừng (khổ luyện tử), hoàng liên gai, hạt dưa hấu, bồ kết, hạt cau, đại hoàng, mỗi vị 20 g. Tán bột, uống mỗi ngày 20g, chia làm hai lần.
  • Quả xoan rừng, hoàng liên gai, binh lang, trần bì, ngô thù, mỗi vị lOOg; anh túc xác 20g. Tán bột, làm viên, mồi ngày uống 20g, chia làm hai lần.

Chữa lỵ mạn tính (thường gặp ở lỵ do amíp):

  • Quả xoan rừng 100g, sáp ong 50g, buồng cau rũ (để làm áo). Tán bột làm viên, ngày uống 10g, chia làm hai lần uống.
  • Quả xoan rừng, bách thảo sương, sáp ong, liều lượng bằng nhau. Tán nhỏ làm viên, ngày uống 10g, chia làm hai lần.

Chữa viêm túi mật, viêm đường dẫn mật, sỏi túi mật, sỏi đường dẫn mật:

Quả xoan rừng 6g; kim tiền thảo, nhân trần, mỗi vị 40g; sài hổ, mã đề, mỗi vị 16g; chi tử 12g; chỉ xác, uất kim, mỗi vị 8g; đại hoàng 4g. sắc uống ngày một thang.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/xoan-rung.html/feed 0
Xoan https://tracuuduoclieu.vn/xoan.html https://tracuuduoclieu.vn/xoan.html#respond Mon, 07 May 2018 00:23:38 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/xoan/ Mô tả cây
  • Ta dùng vỏ thân, vỏ cành to và vỏ rễ phơi khô hay sấy của cây xoan – Cortex Melia. Vỏ rễ tốt hơn
  • Xoan là một cây cao to, có thể đạt tới 25-30m nhưng không thường chỉ thấy 10-15m là người đã khai thác. Vỏ thân xù xì, nhiều chỗ lồi lõm, với nhiều vết khía học. Lá mọc cách 2-3 lần kép lông chim lẻ. Chiều dài tona2 bộ lá có thể tới 60-100cm, chiều rộng toàn bộ lá 40-60cm. Lá chét dài 7-8cm, rộng 2-3cm. Cuống lá chét ngắn, mép khứa răng cưa nông, mặt dưới lá và cuống có lông hình khiên. Cụm hoa hai ngả, 4-5 lá dài, 4-5 cánh hoa màu tím nhạt, ống nhị màu tím.
  • Bần 4-5 lá noãn. Qủa xoan kết quả vào tháng 3, chín vào tháng 12. Khi còn nhỏ non màu xanh, khi chín có màu vàng. Trong quả chứa một hạch màu nâu nhạt
  • Ở các tỉnh vùng Tây bắc (Sơn la, Lai châu) cây xoan mọc phổ biến là loài Melia toosendan Sieb, et Zucc., có quả to hơn, quả hạch có 6-8 ô

Phân bố, thu hái và chế biến

  • Xoan là một cây mọc hoang và trồng nhiều nơi trong nước ta, miền núi cũng như miền xuôi, ở miền xuôi cây mọc khỏe hơn. Nhân dân ta hay trồng xoan vì dễ trồng, chóng lớn. Chỉ sau 6-7 năm là có thể khai thác để lấy gỗ làm cột nhà, đồ dùng. Xoan thích hợp với nhiều loại đất: bãi cát, đồng bằng, đồi núi, nương rẫy. Thường trồng bằng hạt: vào khoảng tháng 12 hạt xoan đã chín, hái về ngâm nước, chà sạch lớp thịt bên ngoài, đem phơi khô cất nơi khô ráo. Hạt xoan có thể giữ từ 7-8 tháng. Khi trồng đào hốc sâu 25-30cm, rộng 30-40cm, hố này cách hố kia 1-1,5m mỗi hốc gieo 3-4 hạt
  • Khi lấy vỏ làm thuốc nên chọn những cây đã đến tuổi khai thác gỗ (6-7 năm), chặt cả cây, cạo bỏ vỏ đen rồi bóc lấy lớp vỏ lụa trắng của vỏ thân, vỏ cành to; nếu cần đào cả rễ, bóc lấy lớp vỏ bõ gỗ lại vẫn dùng làm củi được. Như vậy trước đây khi khai thác xoan ta thường cạo vỏ bỏ đi hay chỉ đào rễ xoan làm củi thì nay kết hợp lấy vỏ làm thuốc. Gỗ và rễ vẫn dùng như cũ. Ta còn có thể đào rễ ở những cây xoan còn sống, hay bóc lấy lớp vỏ ở thân những cây xoan còn đang phát triển. Nhưng chú ý để đủ vỏ cho cây sống.
  • Vỏ hái về phơi hay sấy khô. Khi dùng sao cho hơi vàng, hết mùi hăng là dùng được, không phải chế biến gì khác
  • Vỏ thân và rễ được dùng làm thuốc nhưng vỏ rễ mạnh hơn, với tên khổ luyện căn bì
  • Nhìn bề ngoài rất khó phân biệt vỏ thân hay vỏ rễ, nhưng qua vi phẫu ta có thể phân biệt căn cứ vào mạch gỗ của vỏ thân hình chữ nhật, còn mạch gỗ của vỏ rễ hình tròn; lớp nhu mô của vỏ thân chứa diệp lục còn nhu mô của vỏ rễ chứa tinh bột. Cụ thể từ ngoài vào trong vỏ thân ta thấy: lớp hóa bần thường bong ra ngoài, hai hàng tế bào biểu bì xếp đều đặn, đám sợi xếp rải rác trong phần nhu mô, nhu mô có tế bào hình trứng xếp lộn xộn, chứa diệp lục, libe có tế bào nhỏ ,vỏ mỏng, mạch gỗ hình chữ nhật, xếp thành hàng nằm trong nhu mô gỗ
  • Trong vi phẫu vỏ rễ cũng có lớ[ hóa bần thường bóng ra ngoài màu nâu, hai hàng tế bào biểu bì xếp đều đặn, thỉnh thoảng có những bó sợi nằm trong nhu mô, nhu mô với tế bào hình trứng có chứa tinh bột, đám libe với những tế bào nhỏ mỏng, mạch gỗ hình tròn, nhu mô gỗ với tế bào nhiều mặt
  • Ngoài vỏ thân và vỏ rễ, người ta còn dùng cả quả xoan làm thuốc với tên khổ luyện tử

Thành phần hóa học

  • Vỏ thân và vỏ rễ chứa một ancaloit vị đắng, do Cornish lấy ra lần đầu tiên và được đặt tên là macgosin, có tác dụng diệt giun, ngoài ra còn 70% tanin. Nhưng có tác giả lại cho Macgosin chỉ là một chất nhựa vô định hình
  • Theo một tác giả Nhật bản (Trung Lâm Lợi Bình Dược học tạp chí 1952,72(5):717-718) thì thành phần diệt giun trong vỏ xoan là một chất có tinh thể hình kim không màu, có công thức thô là C9H8O4, độ chảy 154°C. Trong vỏ xoan Melia azedarach L., có chất kulinon độ chảy 138°C, kulacton độ chảy 163-164°5C, tất cả đều là dẫn xuất của euphan”

Tác dụng dược lý

Tác dụng chữa giun

  • Chiết vỏ xoan bằng nước đun sôi theo lối sắc thuốc, sau cô thành cao mềm và chiết cao mềm bằng cồn etylic, thu hồi cồn được nhựa màu vàng nâu vị đắng, mùi hăng hăng; làm chết giun lợn trong 30 phút
  • Chiết vỏ xoan bằng nước, sau đó cô dịch chiết tới cao mềm và chiết cao mềm bằng axeton. Bốc hơi axeton, được thứ nhựa màu vàng, nhựa này có tác dụng làm giun lợn chết 20 phút

Trên lâm sàng

Hầu như chưa được dùng và theo dõi cẩn thận ở nước ta. Nhưng tại nhiều nước, đặc biệt tại Trung quốc, vỏ xoan là một loại dược liệu đặc biệt được chú ý sử dụng và theo dõi trên lâm sàng:

  • Năm 1952, Vương Đức Phấn và cộng sự (Nội khoa học báo 6, 406) đã báo cáo sử dụng nước sắc vỏ xoan 100% trị 35 ca giun đũa đạt kết quả 78%, liều dùng vỏ rễ là 4-5g trên một kg thể trọng, uống vào hơi có tác dụng tẩy, một số tác dụng phụ sinh mặt đỏ bừng, buồn ngủ không cần uống tẩy
  • Năm 1957, Trung y viện Trùng khánh Trung quốc (Trung hoa y học tạp chí, 5:372-375 hoặc Trung y học tạp chí 3:142-144) đã dùng thuốc viên chế từ vỏ xoan dưới hình thức viên 0,3 và 0,1 hoạt chất chữa 1327 trường hợp giun đũa kết quả đạt 72,2% với liều dùng sau đây: 1 tuổi uống từ 1 -1.1/2 viên (hoạt chất thô chế 0,3g, hoạt chất tinh chế 0,1g), 2-4 tuổi uống 2-3 viên, 5-8 tuổi uống 4 viên, 9-12 tuổi uống 5 viên, 13-18 tuổi uống 6 viên và trên 19 tuổi uống 7-9 viên; liều dùng còn căn cứ vào thể trạng bệnh nhân mà thêm bớt. Chừng 40% bệnh nhân uống vào thấy có tác dụng phụ như hơi choáng váng, buồn ngủ, mặt đỏ, nhưng rất chóng hết.
  • Năm 1959, Sở nghiên cứu trung dược tỉnh Tứ xuyên đã chế vỏ xoan thành thuốc viên áp dụng trên 4374 bệnh nhân, kết quả giun đũa ra đạt 73,79% so sánh với santonin không kém (Trung y tạp chí, 4;46-49)
  • Năm 1959 (Trung Hoa nội khoa tạp chí 3, 241-244) Luyện Mai Thanh và cộng sự đã báo cáo sử dụng thuốc viên chế từ vỏ xoan chữa 115 ca giun đũa, đạt kết quả 76,52% trứng giun trorng phân chuyển âm tính đạt 51,43%; sau khi uống thuốc có phản ứng không tốt chiếm 22,61% biểu thị đau bụng, đầu váng, buồn nôn, bụng đầy trướng, phát sốt, nhức đầu là một trong những triệu chứng thường gặp nhất, thứ đến mắt hoa, không muốn ăn, mặt đỏ bừng, toàn thân yếu mệt, nói khó khăn, buồn ngủ, chân tay tê dại..v.v
  • Tại Việt nam trong năm 1967, chúng tôi cùng đỗ Văn Thủ phối hợp với trạm vệ sinh phòng dịch Ty Y tế Hòa bình tiến hành tẩy giun bằng vỏ xoan và cách dùng sẽ giới thiệu ở phần công dụng và liều dùng nhưng không quá 1g vỏ trên 1kg thân thể thì thấy trên toàn bộ những thí nghiệm và trên 117 trường hợp theo dõi cẩn thận hoàn toàn không có ai phản ứng xấu. Toàn bộ những người uống đều ra giun kim, 86% ra giun đũa, có em bé ra tới 105 con giun và có người lớn đã uống nhiều thuốc giun khác như xiro piperazin, santinin chưa bao giờ ra giun nay uống vỏ xoan đã ra giun (Luận văn tốt nghiệp của Đỗ Văn Thủ-Khoa Dược liệu trường đại học dược khoa Hà nội 1968)

Tác dụng khác

Nước sắc vỏ xoan 4ml=1g vỏ xoan có tác dụng ức chế một số vi trùng bệnh ngoài da (Trung hoa bì phu khoa tạp chí 1957, 4; 268-292)
Nước sắc vỏ xoan còn dùng chữa bệnh viêm âm đạo do tích trùng đạt kết quả rất tốt (Trung hoa phụ sản khoa tạp chí 1959, 3:193)
Năm 1978, Phó Đức Thuần, Lê Đức Thọ và cộng sự (Tạp chí Đông y, 153, 23-30) đã nghiên cứu độc tính hoạt chất của vỏ xoan do Đỗ Tất Lợi và cộng sự đã chiết được và đi tới những kết luận sau:

  • Liều DL-50 của hoạt chất có phản ứng nhựa (đặt tên là melia 1) trên chuột nhắt sau 40 phút đầu tiên là 1,491g/kg, sau 24 giờ là 1,356g/kg và sau 48 giờ là 1,277g/kg, của hoạt chất phản ứng của ancaloit (đặt tên là melia 2) là 4,375g/kg (sau 24 giờ) và 4,077g/kg (sau 48 giờ). Nếu so với DL-50 của santonin trong cùng điều kiện thí nghiệm là 0,485g/kg (sau 24 giờ) và 0,444g/kg (sau 48 giờ) thì melia 1 độc hơn melia 2 từ 3 -5 lần, và ít độc hơn satonin từ 2-8 lần. Nếu so sánh liều DL-50 trung bình sau 24 giờ của melia 1 với liều thường dùng trên người để tẩy giun (1g đối với người lớn trên 50kg tức là 0,02g/kg) thì ta thấy biên độ an toàn của thuốc rất lớn: 1,277/0,02:63,85 (hơn 60 lần). Điều này thể hiện trong việc sử dụng thăm dò hoạt chất này trong 8 năm (từ 1970 -1978) chưa thấy gây tác dụng phụ nào đáng kể, trong khi qua tài liệu công bố của trung y viện Trùng khánh (Trung quốc) có tới 40% bệnh nhân uống thuốc xoan thấy choáng váng, buồn ngủ, mặt đỏ nhưng chóng hết
  • Trên súc vật chết sớm (sau 40 phút) mổ ngay thấy tình trạng xung huyết ở các phủ tạng Gan thái mỡ nhẹ, có súc vật không thấy có biến đổi gì ngoài tình trạng xung huyết. Trên chuột mổ để xét nghiệm sống sau 72 giờ thấy có tổn thương ở gan, thận, ruột. Gan thoái hóa mỡ, ruột có đoạn quá sản, lớp liên bào trên mặt ranh giới
  • Trên tim ếch cô lập từ nồng độ 1-5% melia làm giảm biên độ co bop của tim có tần số khôg thay đổi. Nồng độ 5% làm ngừng co bóp tim.
  • Trên mạch ếch cô lập, melia 1 từ nồng độ 1% làm giảm mạch rõ rệt, ở nồng độ 1% làm giãn tĩnh mạch nhiều nhất
  • Trên huyết áp hô hấp thỏ, ở nồng độ 1%, 7% chưa thấy biến đổi rõ hô hấp nhưng trên huyết áp các sóng có nhiều biến đổi rõ rệt, nhưng đến nồng độ 1-3% huyết áp có hạ nhưng không đáng kể và biểu hiện rõ rệt nhất là hô hấp giảm dần rồi ngừng. Nồng độ 1%, thỏ đã khó thở, có những cơn ngừng thở kéo dài, đến nồng độ 3% thỏ ngừng thở rồi chết. Trên thí nghiệm huyết áp hô hấp đưa thuốc vào bằng đường uống, với liều 1g/kg mới xuất hiện các triệu chứng bệnh lý đã gặp ở thí nghiệm uống, triệu chứng ức chế hô hấp vẫn sớm hơn, mạnh hơn so với triệu chứng hạ huyết áp. Kết quả thực nghiệm trên súc vật đã phần nào giải thích cơ chế gây độc trên lâm sàng: mặt đỏ bừng, buồn ngủ, mệt xỉu, chân tay bủn rủn,..và hiệu quả của phương pháp cấp cứu ngộ độc bằng cafein, niketamit và một số thuốc khác torng những công trình cấp cứu ngộ độc xoan ở trong và ngoài nước.
  • Tác dụng kích thích niêm mạc ruột và tác dụng tíchluy4 làm ảnh hưởng xấu đến gan cần chú ý để tránh dùng kéo dài.

Công dụng và liều dùng

  • Vỏ rễ và vỏ thân xoan được nhân dân ta dùng chữa giun từ lâu đời nhưng vì có độc mà liều lượng dùng thường thiếu chính xác cho nên tuy có nhiều kết quả tốt nhưng cũng đã gây ra một số vụ ngộ độc
  • Cho nên gần đây ở nước ta hầu như không thấy sử dụng chữa giun, nhưng tại Trung quốc Mỹ, nhânda6n dùng vỏ xoan làm thuốc chữa giun kim và giun đũa
  • Muốn phục hồi lại việc dùng vỏ xoan chữa giun cần chú ý tới liều lượng và cách chế biến sao cho tiện dụng. Tránh sử dụng bừa bãi tự động dễ gây những tai hại đáng tiếc.
  • Sau đây là những hình thức sử dụng vỏ xoan có kinh nghiệm:

1. Dùng dưới hình thức thuốc bột: bóc lấy vỏ xoan, cạo bỏ lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy lớp vỏ lụa. Sao cho hơi vàng đỡ mùi đăng rồi tán nhỏ. Chia thành từng gói 0,7-1g. Liều dùng như sau:

  • Trẻ từ 1 tuổi trở xuống: ngày uống từ 0,15-0,2g
  • Trẻ em 2 tuổi: ngày uống từ 0,2-0,25g
  • Trẻ từ 3 tuổi: ngày uống từ 0,25-0,35g
  • Trẻ từ 4 tuổi: ngày uống từ 0,35-0,50g
  • Trẻ từ 5 tuổi: ngày uống từ 0,7g- 1g
  • Trẻ từ 10 tuổi trở xuống: ngày uống từ 1g-1,5g
  • Trẻ từ 15 tuổi trở xuống: ngày uống từ 1,5g-2g
  • Người lớn: ngày uống từ 2-3g bột. Uống vào lúc sáng sớm lúc đói. Lấy chuối chấm bột cho dễ uống

2. Dùng hình thức thuốc sắc: vỏ lấy về cạo bỏ lớp vỏ nâu bên ngoài, thái nhỏ, phơi khô và sao cho bớt mùi hăng, sắc 4 nước, mỗi lần đun sôi và giữ sôi 1 giờ rưỡi đến 2 giờ. Cô các nước sắc lại ví dụ 1kg vỏ thì cô còn 1 lít. Sau đó thêm cùng 1 thể tích 1 lít xiro đơn. Trộn đều, cho uống liều như sau:

  • 1-2 tuổi: uống 20ml tương ứng với 10g vỏ khô
  • 3-5 tuổi: uống 30ml tương ứng với 15g vỏ khô
  • 6-9 tuổi: uống 40ml tương ứng với 20g vỏ khô
  • 16-19 tuổi: uống 65ml tương ứng với 32,5g vỏ khô
  • 19 tuổi trở lên: uống 65ml tương ứng với 32,5g-40g vỏ khô
  • Uống vào lúc sáng sớm lúc đói. Nhịn ăn đến trưa thì ăn uống bình thườg, chỉ uống một buổi sáng.

Từ 1973, Đỗ Tất Lợi và cộng sự đã chiết được hoạt chất của vỏ xoan và chế thành viên 0,1g đặt tên là viên Melia dùng với liều 1-3 viên cho trẻ từ 1-4 tuổi, 4-6 viên cho trẻ từ 5-15 tuổi. Trên 15 tuổi dùng với liều 7-10 viên. Ngoài công dụng chữa giun, nhân dân còn dùng lá sắc diệt côn trùng: lá cây 4 kg, nước 10 lít. Phun lên những cây bị sâu bọ ăn hại. Còn để lá xoan vào chum đựng các loại hạt như hạt đậu để tránh mọt, hoặc nấu nước tắm cho súc vật (trâu, bò , ngựa), để chữa ghẻ. Vỏ xoan là thuốc dùng có hiệu lực nhưng có độc cho nên phải cẩn thận khi sử dụng.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/xoan.html/feed 0
Rùm nao https://tracuuduoclieu.vn/rum-nao.html https://tracuuduoclieu.vn/rum-nao.html#respond Fri, 27 Apr 2018 01:43:12 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/dl/rum-nao/ Mô tả cây

Cây rùm nao là một cây cao từ 5-15m. Cành gầy lúc đấu có lông măng, màu gì sắt sau nhẵn và ngả nâu nhạt. Lá mọc so le, có cuống dài 10-12m, rộng 3-4cm hình trứng hay lưỡi mác. Phiến lá dài, mép nguyên, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông măng, điểm những hạch màu đỏ. Từ cuống tỏ ra ba gân, sát cuống có hai hạch đen. Hoa nhỏ, đơn tính khác gốc không có cánh mọc thành bông ở kẽ lá hoặc đầu cành. Qủa là một nang, hình cầu, đường kính chừng 10mm, gồm 3 mảnh nhỏ, mỗi mảnh mở ra theo đường của 2 van. Trên mặt quả có các hạch hình hạt nhỏ màu đỏ tươi hay đỏ nâu, hạt hình cầu hay hình trứng dài 5mm màu đen mờ.

Phân bổ

Theo A. Petelot (1954) cây mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam. Nhưng chúng tôi chỉ phát hiện được vào tháng 4 -1962 tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, khi cây đang có quả. Tên địa phương là rùm nao. Sau đó đã thấy cả ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Hòa Bình và nhiều nơi khác.

Bộ phận dùng

  • Hạch và lông ở xung quanh quả. Thường không dùng hạch và lông của lá và các bộ phận khác. Các nước khác dùng với tên kamala. Cách lấy hạch và lông ở quả như sau: hái quả chín đỏ vào tháng 3-4, phơi khô. Đặt lên một cái rây có mắt nhỏ. Xoa bằng tay, các hạch và lông rụng xuống lọt qua rây. Hứng vào tấm vải
  • Các hạch và lông hứng được là một thứ bột mịn, màu đỏ tươi hay đỏ nâu, không mùi, không vị, đốt cháy rất mau, nổi lên mặt nước, nước có màu vàng sau đó bột chìm xuống.
  • Ta có thể dùng cồn, hoặc ete, benzen, clorofoc để lấy ra một chất màu đỏ nâu. Gặp chất kiềm cho màu đỏ

Thành phần hóa học

  • Hoạt chất chính trong hạch và lông rùm nao là một chất màu kết tinh hình phiến mỏng
  • Anderson gọi chất này là rolerin, Perkin gọi là malotoxin, Merck gọi là kamalin.
  • Tác dụng kiềm và đun nóng, rotlerin sẽ cho metylphlorogluxin. Khử oxy bằng natri hydroxuyt và kẽm sẽ được dimetylphlorogluxin
  • Tác dụng axit clohydric, rotlerin sẽ cho isorotlerin
  • Ngoài rotlerin ra rùm nao còn chứa một chất nhựa đỏ, một chất nhựa màu vàng, một chất có tinh thể màu vàng và sáp.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân Việt Nam ít dùng vị thuốc này. Tại Cao Bằng chỉ dùng vỏ cây sắc thuốc chữa bệnh dày da bụng, phù.

Tại các nước người ta dùng hạch và lông của cây này với tên Kamala làm thuốc chữa sán. Ưu điểm của nó là nó có tác dụng tẩy luôn, dễ uống không gây nôn mửa.

Liều dùng: Trẻ em ngày uống 2g bột, chia làm 2 lần uống, mỗi lần cách nhau ½ giờ

Người lớn: ngày uống 6-12g cũng chia làm hai lần uống, mỗi lần cách nhau ½ giờ

Ngoài công dụng trong y dược, bột này còn được nhân dân Ấn Độ dùng làm thuốc nhuộm màu vàng cam

Chú thích:

Trong các tài liệu cũ, thường ghi cây này với tên cánh kiến và nói là dùng nhuộm răng. Chúng tôi cho rằng đây là một sự lầm lẫn khi điều tra. Vì vị cánh kiến dùng để nhuộm răng là một thứ nhựa do một con sâu sống trên nhiều cây tiết ra. Ta gọi là gôm lắc hay sen lac (shell lac), stich lac (stick lac)

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/rum-nao.html/feed 0