Xuân hoa

Tên tiếng Việt: Xuân hoa, Hoàn ngọc

Tên khoa học: Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk. ex Lindau, 1883

Họ: Acanthaceae

Công dụng: Đau bụng, ỉa chảy, rối loạn tiêu hoá (cả cây). Ở Trung Quốc, rễ được dùng chữa đòn ngã tổn thương.

Xuân hoa có tên khoa học: Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk. Họ Ô rô (Acanthaceae). Đây là loại cây bụi, sống nhiều năm, cao 1-2 m, thân non màu xanh lục, phân nhiều cành mảnh, phần gốc hóa gỗ màu nâu. Lá mọc đối, hình mũi mác, dài 12 – 17cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép nguyên. 

Xuân hoa

Cây Xuân hoa

Mô tả: 

  • Đây là loại cây bụi, sống nhiều năm, cao 1-2 m, thân non màu xanh lục, phân nhiều cành mảnh, phần gốc hóa gỗ màu nâu. Lá mọc đối, hình mũi mác, dài 12 – 17cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép nguyên.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành, thành xim dài 10 – 16cm; hoa lưỡng tính, màu trắng pha tím, đài 5 lá rời nhau, tràng hợp có ống hẹp và dài; bao phấn màu tím, bầu thượng, nhẵn, 2 ô.
  • Quả nang, chứa 4 hạt.

Phân bố, sinh thái. 

  • Chi Pseuderanthemum Radlk chưa xác định chính xác hiện nay có bao nhiêu loài ở Việt Nam. Theo Raymond Bemost, 1939 có 7 loài: Phạm Hoàng Hộ 1993 có 9 loài; Nguyễn Tiến Bản, 1997 có 10 loài. Song tất cả đều ghi nhận xuân hoa là một cây mọc tự nhiên ở vùng núi, vài năm gần đây được trồng rải rác trong nhân dân.
  • Xuân hoa thuộc loại cây ưu ẩm, ưu sáng và có thể hơi chịu bóng nhất là khi còn nhỏ. Cây trồng sinh trưởng mạnh mẽ trong mua xuân – hè, mùa đông có hiện tượng nửa rụng lá. Xuân hoa trồng nên 1 năm tuổi mới có hoa, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, có khả năng tái sinh cây chồi khoa sau khi bị chặt. Ngoài ra, cánh cắm cành, giâm cành đêu có thể tái sinh thành cây mới.

Cách trồng. 

Xuân hoa được nhân giống dễ dàng bằng giâm cành. Chỉ cần một đoạn cành hoặc ngọn cây dài 20 – 25cm cắm xuống đất ẩm là ra rễ. Có thể trồng xuân hoa quanh năm.

Thành phần hóa học: 

  • Cây Xuân hoa chứa sterol, flavonoid, đường khử, carotenoid, acid hữu cơ.
  • 7 chất đã được phân lập, trong đó 4 chất là Phytol, β-sitosterol, hỗn hợp đồng phân Epimer của Stigmasterol và Poriferasterol.
  • Lá tươi chứa diệp lục toàn phần 2,65mg/g, protein hòa tan 25,5mg/g, polysaccharid hòa tan 0,80%, và các chất: Ca 875,5mg%, Mg 837,6mg%, K 587,5mg%, Na 162,7mg%, Fe 38,75mg%, Al 37,5mg%, V 3,75mg %, Cu 0,43mg%, Mn 0,34mg%, Ni 0,19mg%. Lá có enzym với hoạt tính cao ở pH 7,5, nhiệt độ 70oC.

Tác dụng dược lý:

Chi Pseuderanthemum đã có 1 số loài được nghiên cứu và sử dụng như:
a, Theo thông tin của trung tâm NAPRALERT (Chicago,USA) loài

p.graciliflorum được nghiên cứu và sử dụng cho phụ nữ sau khi sinh.

b, Tác dụng sinh học của cây Xuân hoa – Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk. 

  • Tính kháng khuẩn, kháng nấm:

Đã nghiên cứu Cao đặc chiết bằng Methanol từ cây Xuân hoa trên vi khuẩn và vi nấm, kết quả cho thấy:
– Nồng độ tối thiểu ức chế (Mic) trên Escherichia coli của mẫu vườn thực vật Trường Đại học Dược Hà Nội là 200 ỊJg/ml, mẫu lấy tại vườn quốc gia Cúc Phương là 400 ụg/ml; Chưa thấy có tác dụng trên Pseudomonas aeruginosa.
– Đối với nấm, cao không có tác dụng trên Aspergillus niger ờ nồng độ 400 ụg/ml, có tác dụng trên các nấm: Fusarium oxysporum, Rhezhoctona solanỉi, Saccharomyces cerevisae và Candida albicans với Mic là 200 ụg/ml. Có phân đoạn chiết tác dụng mạnh hơn cao chiết thô 4-5 lần.

  • Hoạt tính thuỷ phân Protein (Proteinase):

Dựa vào kinh nghiệm dân gian lá cây Xuân hoa giã đắp nên vết thương để tiêu mủ và làm tan mụn lồi, đã xác định hoạt tính này, Lá Xuân hoa tươi nghiền mịn (có Mercaptoethanol), chiết bằng dung dịch đệm phosphat 0,05- 0,1M, pH 7,6 theo tỷ lệ 1:20. Khuấy nhẹ bằng máy khuấy từ trong 30 phút, sau đó ly tâm 12000 vòng/phút trong 10 phút ở 4°C. Lấy dịch trong ở trên định lượng hoạt tính proteinase. Kết quả:
– Dịch chiết lá có tác dụng thuỷ phân Protein khá, mạnh nhất ở pH 7,5 và 70°c
– Enzym bền khi phơi khô lá ở 60°c, hoạt tính còn 30%. Dịch chiết Proteinase từ lá để 1 tháng ở 4°c hoạt tính giảm ít.
– Tinh chế Proteinase làm tăng hoạt tính lên gấp 5 lần đạt mức 1,912 lU/mg Proteinse.

  • Tác dụng ức chế MAO (Monoaminoxydase):

Lá cây Xuân hoa chiết bằng Methanol rồi được cô đặc, với nồng độ 6mg/ml ức chế được 69,9%. Nguồn MAO lấy từ mitochondri của gan chuột cống và cơ chất dùng là Kynuramin.

  • Tác dụng bảo vệ gan:

Chế phẩm dùng là cao toàn phần lá Xuân hoa đã loại hết clorophyl. Cho chuột nhắt trắng uống cao 3 ngày liền, liều mỗi ngày 250 mg/kg. Gây tổn thương gan bằng tiêm i.p. tetưaclorid carbon (CCI4) vào ngày thứ ba sau khi cho uống thuốc được Ih. Tổn thương gan sẽ làm tăng quá trình peroxy hoá lipid màng tế bào gan, làm tăng hàm lượng malonyl dialdehyd (MDA) trong gan. Ngày thứ tư lấy máu xét nghiệm enzym gan và lấy gan định lượng (MDA). Kết quả ở lô gây tổn thưcmg bằng CCI4 với liều 0,5 ml/kg, hàm lượng MDA tăng 95,8%; lô dùng thuốc và CCI4 hàm lượng MDA chỉ tăng 5,9% so với lô chứng không dùng CCI4 . Khi gây tổn thương gan bằng CCI4 với liều Iml/kg hàm lượng MDA tăng 180,6%; còn lô dùng thuốc và CCI4 chỉ tăng 112,9%.
Các enzym gan ASAT và ALAT ở lô dùng CCI4 liều 0,5 ml/kg tăng gấp 2 lần, còn lô dùng thuốc và CCI4 hoạt tính enzym không khác nhiều so với lô chứng không dùng gì.

Theo NAPRALERT (cơ sở dữ liệu về cây thuốc trên thế giới, thuộc trường Đại học Illinois ở Chicago, u.s .A), đến ngày 5/4/2007 thế giới vẫn chưa có tài liệu nào công bố về tác dụng dược lý cây thuốc Xuân hoa lá hoa (Pseuderanthemum bracteatum).

xuân hoa

Cây xuân hoa – lợi tiêu hóa, tốt gan mật

Công dụng: 

  • Cây Xuân hoa:

Lá cây Xuân hoa chữa đau bụng do nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, tiêu chảy, đòn ngã tổn thương, vết thương, tiêu mủ, mụn lồi.

  • Cây Xuân hoa lá hoa: còn dùng trong phạm vi nhân dân.

Ở Thái Bình, bộ phận trên mặt đất của cây XHLH dùng để chữa viêm
đại tràng cấp và mạn tính, đau bụng do co thắt, đầy hơi, chướng bụng, sôi bụng, trĩ xuất huyết, đi ngoài ra máu, chảy máu cam, chảy máu do chấn thương phần mềm.
Ở Hoà Bình, XHLH được dùng để chữa cao huyết áp.
Ở thành phố Thái Nguyên, XHLH dùng để chữa viêm loét dạ dày – tá tràng chảy máu có hiệu quả. Ngoài ra phần lá non còn ăn với nem chạo và gỏi để tăng vị chua chát, phòng đầy bụng.

Cách dùng:

  • Dùng trong: lá, thân phơi khô, sắc với nước uống. Liều 10 – 12 g/ngày đối với người lớn.
  • Dùng ngoài: lá tươi, giã nát, đắp lên vết thương, băng lại. Liều 10 – 30 g

Bài thuốc liên quan: 

  • Ðau dạ dầy do bị loét, viêm: ăn 2 lần/ngày. Mỗi lần không quá 7 lá. Khoảng 50 lá là khỏi.
  • Chảy máu đường ruột: Uống lá tươi hoặc lá đã nát, dùng 7–10 lá. Khoảng 1-2 lần là khỏi.
  • Viêm đại tràng co thắt: Ăn như trên 100 lá, kết hợp ăn lá mơ lông trong bữa ăn. Ăn từ 1 đến 2 tháng.
  • Viêm gan, sơ gan cổ trướng: Ngày ăn 2-3 lần, mỗi lần 7 lá dùng khoảng 150 lá.
  • Ðau thận, viêm thận, đau thường xuyên: Dùng không quá 50 lá, chỉ khoảng 30 lá là dứt cơn đau, ngày 3 lần, mỗi lần 3-7 lá.
  • Tả lỏng, đi lỵ, rối loạn tiêu hóa: 7-15 lá, dùng 2 lần là khỏi.
  • Mệt mỏi toàn thân: 3-7 lá, ăn 2 lần.
  • Ðái gắt, đái buốt, đái dục, đái ra máu: Ăn từ 14-21 lá hoặc dã nát uống nước đặc.

Ý kiến của bạn