Tra cứu dược liệu https://tracuuduoclieu.vn Thu, 27 Mar 2025 03:06:34 +0700 vi hourly 1 Sài hồ https://tracuuduoclieu.vn/sai-ho.html https://tracuuduoclieu.vn/sai-ho.html#respond Thu, 15 Dec 2022 08:41:21 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=69955 Mô tả cây
  • Sài hồ là cây sống lâu năm, cao 45-70 cm, rễ nhỏ, hình trụ, phân nhánh hoặc không phân nhánh. Thân mọc thẳng, phân nhánh.
  • Lá mọc cách, mép nguyên, hình mác, dài 3-6cm, rộng 6-13cm, đầu lá nhọn, có 7-9 đường gân song song. Lá phía dưới có cuống ngắn, phía trên không có cuống.
  • Cụm hoa hình tán kép, mọc ở kẽ lá và đầu cành, gồm 3-8 tán đơn không bằng nhau, lá bắc hình mác.
  • Hoa nhỏ màu vàng.
  • Quả hình bầu dục, dài độ 5mm, nhưng góc quả rất rõ, có 3 ống tinh dầu nằm ở mặt tiếp giáp.
  • Mùa ra hoa: tháng 7-10.

Phân bố

Sài hồ có nguồn gốc ở Nhật Bản và Trung Quốc. Hiện nay, hai đất nước này cũng là nơi trồng nhiều sài hồ nhất. Vào năm 1994, Viện Dược liệu nhập hạt từ hạt giống sài hồ Nhật Bản đã trồng thử ở Trại thuốc Sapa và Tam Đảo. Cây sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, về chiều cao, cây trồng ở Tam Đảo thấp hơn ở Sapa. Cây trồng ở Sapa đã cho thu hoạch hạt giống và dược liệu.

Bộ phận dùng

Rễ đã được phơi khô hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học

Sài hồ chứa các hợp chất thuốc nhiều nhóm thành phần hóa học, có chừng 0,5% chất saponin, tinh dầu và flavonoid. Trong rễ chứa khoảng 1.69% hàm lượng saponin, hàm lượng cao hay thấp này phụ thuộc vào kích thước của rễ, chứa chủ yếu ở phần vỏ rễ.

Thành phần tinh dầu sài hồ gồm acid pentanoic, acid hexanoic, acid 2-heptenoic, acid octanoic, acid octenoic, acid nonanoic,.. và nhiều thành phần hóa học khác. Hàm lượng tinh dầu là 0.16% trong rễ và 0.05% trong thân.

Lá có nhiều flavoid: kaempferitrin ( kaempferol-3,7-dirhamnosid) và kaempfreol-7-rhamnosid.

Theo như quy định của Dược điển Trung Quốc( bản in Tiếng Anh) 1997 hàm lượng chiết suất trong sài hồ tan trong cồn( chiết nóng ) là 11%.

Tính vị

Sài hồ có vị đắng, mùi thơm, tính mát.

Công dụng

Sài hồ được dùng chữa sốt, nhức đầu, chóng mặt, sốt do thương hàn, sốt rét, ngực bụng đầy trướng, kinh nguyệt không đều.

Trong y học cổ truyền của các nước phương Đông, sài hồ được dùng điều trị sốt, đau và viêm kết hợp với cúm và cảm lạnh, giảm đau trong suốt quá trình điều trị đau tức ngực và vùng hạ sườn, điều trị vô kinh, viêm gan mạn tính, hội chứng hư thận và bệnh tự nhiên miễn dịch. Trong y học dân gian của một số nước, sài hồ chữa điếc, chóng mặt, đái tháo đường, vết thương và nôn mửa.

Tác dụng dược lý

Hoạt tính hạ sốt và giảm đau

Một số nghiên cứu invivo đã xác nhận hoạt tính hạ sốt của rễ sài hồ trong điều trị sốt gây thực nghiệm ở động vật. Cho thỏ đã được gây sốt thực nghiệm uống sài hồ (5g/kg) dạng nước sắc, thân nhiệt thỏ giảm xuống mức bình thường trong 1.5 giờ. Tiêm dưới da cao cồn – nước rễ sài hồ làm hạ số ở thỏ được tiêm.

Cho chuột cống trắng uống saikosaponin làm hạ sốt.

Hoạt tính an thần

Những nghiên cứu in vivo cũng đã xác nhận tác dụng an thần của rễ sài hồ . Cả phân đoạn saikosaponin thô và saikogennin A đều có tác dụng rất rõ rệt. Nghiên cứu invivo dùng làm thí nghiệm chuột leo que chứng minh an thần của saikosaponin ( 200-800mg/kg) ở chuột nhắt trắng giống như meproamat(100mg/kg). Cho uống saikosid hoặc sailosaponin A rừ sài hồ bắc cũng kéo dài giấc ngủ gây bởi cyclobarbital natri. Tiêm phúc mạc saicogenin A ức chế sự leo que của chuột nhắt trắng và đối kháng với tác dụng kích thích của metamphetamin và cafein.

Hoạt tính bảo vệ gan

Saponin thô từ sài hồ cho chuột cống trắng uống(500mg/kg.ngày x3 ngày), làm bình thường hóa chức năng gan, qua xác định phosphatase kiềm trong huyết thanh chuột gây nhiễm độc gan, qua xác định phosphatase kiềm trong huyết thanh chuột gây ra nhiễm độc gan với carbon tetraclorid. Điều trị chuột cống trắng với sailpsaponin 2 giờ trước khi cho galactosamin, đã ức chế sự tăng trưởng AST( Aspartat amminotransferase) và ALT(Alanin aminotransferase) trong huyết thanh do tổn thương mô gan.

Trong mô hình gây tổn thương gan cấp tính với carbon tetraclorid trên chuột cuống trắng, nhóm chuột điều trị với cao methanol sài hồ ( 160mg/kg/ngày* 1,2,3 ngày) hồi phục nhanh hơn, trở về mức bình thường của đường máu và hoạt độ của AST, ALT, phosphatase kiềm và 5′-nucleotidase ở ngày 2 và 3, và ở mức glycogen gan, lipid peroxyld tiểu thể gan và hoạt độ của glucose-6-phosphatase vào ngày 3. Trong thử nghiệm in vitro, cao methanol ức chế sự peroxy hóa lipid phụ thuộc vào liều. Cao methanol sài hồ làm răng sự phục hồi tổn thương gan cấp tính gây  bởi CCl4 có thể do tác dụng oxy hóa. Các saikosaponin A và D có tác dụng trên các enzym gan và làm tác dụng của cortison kích thích tyrosin aminotransferase của gan. Chức năng gan được cải thiện khi dùng lâu dài các saponin sài hồ chứa saikosaponin A và D hoặc B và C. Có hiệu lực tốt dự phòng tổn thương gan, làm tăng tổng hợp protein ở gan.

Hoạt tính điều hòa miễn dịch

Nghiên cứu invivo chứng minh cao chiết với nước nóng từ rễ sài hồ làm tăng đáp ứng kháng thể và ức chế biến đổi của tế bào lympho gây ra bởi chất tạo phân bào.  Một polysacharid, bupleuran 2IIb phân lập từ rễ sài hồ, làm tăng mạnh sự gắn của phức hợp miễn dịch vào đại thực bào. Hoạt tính của polysacharid này có vẻ do khả năng làm tăng chức năng của thụ thể Fc ở đại thực bào.

Bài thuốc có chứa sài hồ

1. Chữa sốt, sốt do hư lao, cảm mạo:

  • Sài hồ 15g, bán hạ 7g, nhân sâm, sinh khương, cam thảo, đại táo mỗi vị 4g; hoàng cầm 2.5g . Sắc uống mỗi ngày 1 thang
  • Sài hồ 100g, cam thảo 25g. Tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày dùng 8g, với 1 bát nước

2. Chữa suy nhược cơ thể ở người có bệnh mạn tính ở phổi và đường tiêu hóa

Sài hồ 10g, đảng sâm 16g, hoài sơn, bạch truật, đại táo mỗi vị 12g, phục linh địa hoàng, bạch thược, đương quy, thàn khúc, bạch chỉ, mạch môn mỗi vị 10g, phòng phong 9g, biển đậu, cát cánh mỗi vị 8g, cam thảo 6g, can khương, quế chi mỗi vị 4g. Tán nhỏ, uống mỗi ngày 20g.

3. Chữa tăng huyết áp ở người trẻ, hoặc trong rối loạn tiền mãn kinh

Sài hồ 8g, xa tiền 16g, sinh địa 14g hoàng cầm, chi tử, trạch tả mỗi vị 12g, long đởm thảo, đương quy, mộc thông mỗi vị 8g, cam thảo 4g. Sắc uống trong một tháng.

4. Chữa suy nhược thần kinh, nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, khó ngủ

  • Sài hồ 12-16g, chỉ tử, mạn kinh, cúc hoa, táo nhân, bá tử nhân mỗi vị 8-12g.Sắc uống ngày một thang.
  • Sài hồ 12g, đương quy, bạch thược, bạch truật, phục linh,bạc hà mỗi vị 8g, cam thảo 6g, sinh khương 4g. Sắc uống mỗi ngày một thang.
  • Sài bắc,hoàng cầm, bạch truật, phục linh, bạch thược, đại táo, mỗi vị 12g, thanh bì, bạc hà, uất kim, hương phụ, chỉ xác, táo nhân mỗi vị 8g, cảm thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.

5. Chữa viêm gan virut mạn tính

  • Sài hồ, bạch truật, đảng sâm, bạch thược mỗi vị 12g; phục linh, bán hạ chế, mỗi vị 8g; cam thả, trần bì mỗi vị 6g. Sắc ngày uống 1 thang.
  • Sài hood 12g; bạch thược, xuyên khung, đương quy, đại táo mỗi vị 8g; chỉ thực. hậu phác, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống này một thang.
  • Sài hồ, bạch thược, đương quy, bạch truật, bạch linh mỗi vị 12g; uất kim 8g; cảm thảo 4g, gừng sống 2g. Sắc uống ngày một thang hoặc tán bột uống 20g mỗi ngày.

 

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/sai-ho.html/feed 0
Giảo cổ lam https://tracuuduoclieu.vn/giao-co-lam.html https://tracuuduoclieu.vn/giao-co-lam.html#respond Thu, 02 Dec 2021 03:52:25 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=29705 Giảo cổ lam 1

Hình 1: Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum)

Mô tả cây

  • Giảo cổ lam là cây thảo mọc leo, sống hằng năm. Thân mảnh, hơi có rãnh, nhẵn. Tua cuốn chẻ đôi ở đầu.
  • Lá kép mọc so le, gồm 3-7 lá chét hình bầu dục-thuôn hoặc mũi mác, dài 3-9cm, rộng 1,5-3cm, gốc thuôn hẹp, đầu nhọn, mép khía răng, hai mặt có lông, ít khi nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới rất nhạt, có cuống dài 3-7cm.
  • Hoa đơn tính khác gốc, mọc ở kẽ lá và đầu ngọn thành chùy buông chõng có thể dài đến 30cm (ở cụm hoa cái ngắn hơn); hoa nhỏ, hình sao, bao hoa rất ngắn, to hơn hoa cái; lá đài hình tam giác nhọn; cánh hoa hình mác rời nhau; nhị 5,bao phấn dính nhau; bầu có 3 vòi nhụy.
  • Quả mọng, nạc, hình cầu, đường kính 5-9mm, nhẵn, khi chín màu đen, hạt 2-3, gần hình ba cạnh, hơi dẹt, đường kính 4mm.
  • Mùa hoa: tháng 7-8, mùa quả tháng 9-10.

Phân bố

Loài cây này mọc nhiều ở độ cao trên dưới 2000m so với mặt nước biển, trong các khu rừng thưa, ẩm thấp, khí hậu lạnh quanh năm bao gồm: Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Nam Trung Quốc, các tỉnh vùng núi phía Bắc của Việt Nam.

Riêng tại Việt Nam, khi tiến hành cuộc khảo sát dược liệu tại Fansipan, các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện một quần thể rộng lớn cây Giảo cổ lam mọc hoang ở độ cao 1500m thuộc dãy Hoàng Liên Sơn.

Theo thông tin thu thập được, người dân nơi đây đã dùng cây này từ nhiều đời nay nhằm tăng lực, chống mệt mỏi khi đi rừng, tăng cường sức khỏe. Mẫu cây này sau đó được gửi đến Viện Dược liệu Trung ương và đến các phòng nghiên cứu thực vật lớn trên thế giới và xác định đúng là cây Gynostemma pentaphyllum. Qua nghiên cứu cho thấy, giảo cổ lam Việt Nam có chất lượng tương đương với giảo cổ lam của Nhật Bản và Trung Quốc.

Đặc biệt, tại Việt Nam có công ty TNHH Tuệ Linh đã phát triển thành công 1 vùng trồng Giảo cổ lam 5 lá quý hiếm (Ngũ diệp sâm) rộng 5 ha đạt chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái của Tổ chức Y tế thế giới (GACP – WHO) tại Mộc Châu. Được biết, đây chính là giảo cổ lam mà các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc đặc biệt ưa chuộng. Kể từ khi phát hiện ra Giảo cổ lam vào năm 1997, GS.TS Phạm Thanh Kỳ (Thầy thuốc nhân dân, nguyên hiệu trưởng ĐH Dược Hà Nội) đã đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước.

Cho đến nay, GS.TS Phạm Thanh Kỳ cùng với các nhà khoa học Viện dược liệu, Bộ môn Dược lý Trường đại học Y Hà Nội và công ty TNHH Tuệ Linh đã phối hợp nghiên cứu làm rõ tác dụng hạ đường huyết, mỡ máu và huyết áp của cây thuốc quý này. Để mua đúng loại giảo cổ lam 5 lá này, các bạn có thể liên hệ với công ty TNHH theo số hotline của công ty là 18001190.

Phân bố 1

Hình 2: Vùng trồng Giảo cổ lam 5 lá (Ngũ diệp sâm) lớn nhất Việt Nam đạt chuẩn GACP-WHO tại Mộc Châu

Bộ phận dùng

Toàn cây

Thành phần hóa học

Thành phần hoạt chất chính của Giảo cổ lam: Saponin, flavonoid, polysaccharid.

Saponin: Trong GCL có chứa hơn 100 loại saponin cấu trúc triterpenoid kiểu Dammaran (gồm 4 vòng và một mạch nhánh), gọi chung là các gypenosids, trong đó có 4 saponin có giống cấu trúc giống hệt saponin trong nhân sâm, 11 saponin có cấu trúc tương tự như saponin trong nhân sâm. Ngoài ra, giảo cổ lam còn chứa các acid amin tan trong nước, các vitamin, nhiều nguyên tố vi lượng như kẽm, sắt, selen và rất giàu canxi hữu cơ.

Tính vị

Giảo cổ lam vị rất giống nhân sâm, trước đắng sau ngọt (tiền khổ hậu cam cam).

Công dụng và các nghiên cứu khoa học về Giảo cổ lam

Giảo cổ lam là một trong những cây dược liệu cổ quý hiếm được biết đến với rất nhiều tác dụng trong y học. Dược liệu này đã được sử dụng từ rất lâu đời ở các nước như Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên, đặc biệt là Trung Quốc.

Ở Trung Quốc, Giảo cổ lam đã được các vua chúa Trung Quốc sử dụng từ xa xưa để tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và làm đẹp. Cây này được hoàng đế Tần Thủy Hoàng ưa dùng với mong muốn trường sinh bất lão, do vậy giảo cổ lam còn được gọi là cỏ trường thọ.

Ở Nhật Bản, năm 1976, các nhà khoa học tình cờ phát hiện ra Giảo cổ lam khi nghiên cứu một bộ lạc sống trên vùng núi cao có tuổi thọ bình quân xấp xỉ 100 tuổi. Nguyên nhân là do người dân nơi đây đã dùng giảo cổ lam, chế biến thành trà uống hàng ngày, để tăng cường sức khỏe. Người dân Nhật Bản gọi giảo cổ lam với cái tên Phúc Âm Thảo.

Giảo cổ lam đã được ghi trong sách cổ “Nông chính toàn thư hạch chú”, quyển Hạ năm 1694 và trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” với những công dụng sau:

  • Ba chống: Chống u, chống lão hóa, chống mệt mỏi
  • Ba giảm: Giảm béo, giảm căng thẳng, giảm nám sạm da
  • Năm tốt: Ăn ngủ tốt, tiêu hóa tốt, da dẻ tốt, sức khỏe tốt và giúp tỉnh táo.

Ngày nay, trải qua nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học đã chứng minh được công dụng của giảo cổ lam với sức khỏe con người.

Giảo cổ lam giúp hạ đường huyết, hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường tuýp II

  • Các chất trong Giảo cổ lam có tác dụng ổn định đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Năm 2004, Viện dược liệu Trung ương kết hợp với viện nghiên cứu Karolinska, Thụy Điển đã tìm ra một hoạt chất mới từ cây Giảo cổ lam, có tác dụng kích thích tạo insulin. Các nhà khoa học đã chứng minh được hoạt chất này là một saponin mới và được đặt tên là Phanoside (lấy tên nhà khoa học Việt Nam Đào Văn Phan, trưởng nhóm nghiên cứu). Khi sử dụng trên chuột người ta thấy rằng Phanoside đáp ứng với từng nồng độ glucose khác nhau. Điều thú vị là độ nhạy cảm của tế bào đảo tụy với Phanoside khi nồng độ glucose cao tốt hơn khi ở nồng độ thấp. Điều này có nghĩa là Giảo cổ lam hầu như không có tác dụng hạ đường huyết khi nồng độ đường trong máu ở ngưỡng giới hạn bình thường mà chỉ làm giảm đường huyết trên đối tượng có nồng độ đường huyết cao.
  • Từ thành công ban đầu tìm ra phanoside năm 2007, các tác giả này đã tìm ra cơ chế kiểm soát đường huyết của phanoside là do khả năng kích thích tiết insulin từ đảo tụy. Và đến năm 2010, một cuộc thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 đã được thực hiện. Kết quả cho thấy, sau khi sử dụng trà Giảo cổ lam với mức liều 6g/ngày, sau 4 tuần thì nồng độ đường trong máu giảm 3 mmol/l so với trước khi sử dụng, đồng thời Giảo cổ lam còn giúp cải thiện tình trạng rối loạn mỡ máu của bệnh nhân tiểu đường.
  • Một nghiên cứu lâm sàng khác năm 2011 do TS. Vũ Thị Thanh Huyền, bộ môn Dược lý, trường Đại học Y Hà Nội phối hợp với Hội đái tháo đường Thụy Điển thực hiện trên 65 bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 tại bệnh viện Lão Khoa Trung ương có chỉ số đường huyết lúc đói trong khoảng từ 9 đến 14 mmol/l, sử dụng trà Giảo cổ lam với mức liều 6g/ngày (tương đương 3 gói trà Giảo cổ lam Tuệ Linh 2g dạng túi lọc), trong thời gian 12 tuần. Kết quả cho thấy, sau 12 tuần sử dụng trà Giảo cổ lam, đường huyết giảm 3 mmol/l so với nhóm đối chứng không sử dụng Giảo cổ lam. Nghiên cứu cũng nhận thấy nếu sử dụng một thuốc hạ đường huyết gliclazide trong 4 tuần sau đó chuyển sang sử dụng trà Giảo cổ lam trong 8 tuần cũng giúp làm giảm đường huyết lúc đói là 2,9 mmol/l so với nhóm chỉ sử dụng gliclazide đơn thuần trong 4 tuần đầu. Đồng thời nghiên cứu của TS. Vũ Thị Thanh Huyền cũng nhận thấy sử dụng trà Giảo cổ lam làm tăng mức độ nhạy cảm của tế bào với insulin, khả năng sử dụng glucose của tế bào, do đó giúp ổn định nồng độ đường trong máu.

Như vậy, tác dụng hạ đường huyết của giảo cổ lam dựa trên các cơ chế:

  • Kích thích tế bào beta đảo tụy tăng tiết insulin.
  • Giảm tính kháng của tế bào đối với insulin
  • Giảm tổng hợp glucose ở gan

Giảo cổ lam giúp hạ mỡ máu, ngăn ngừa xơ vữa động mạch

Giảo cổ lam làm hạ mỡ máu, giảm cholesterol toàn phần, triglyceride và tăng hoạt tính của enzyme lipoprotein lipase làm tăng thoái giáng lipid trong máu, do đó ngăn ngừa nguy cơ xơ vữa mạch máu, chống huyết khối.

  • Những đánh giá bước đầu về tác dụng làm giảm cholesterol máu đã được tác giả Phạm Thanh Kỳ công bố trên tạp chí Dược liệu vào năm 1999 khi tiến hành thử nghiệm trên mô hình chuột gây rối loạn mỡ máu bằng chế độ ăn giàu lipid cho thấy: uống Giảo cổ lam trong 30 ngày làm giảm cholesterol toàn phần 71% so với nhóm không sử dụng dược liệu này. Kết quả này là cơ sở khoa học khẳng định tác dụng làm giảm mỡ máu của Giảo cổ lam.
  • Một nghiên cứu khác của tác giả Samer Megalli, trường Đại học Sydney, Úc công bố năm 2005 cũng khẳng định tác dụng làm giảm cholesterol toàn phần trong máu, triglycerid, LDL (một loại cholesterol xấu trong máu, loại cholesterol này làm tăng nguy cơ xuất hiện các mảng xơ vữa động mạch và các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ…) trên mô hình động vật thí nghiệm. Theo kết quả của nghiên cứu này thì sử dụng Giảo cổ lam làm giảm lượng triglycerid trong máu 85%, cholesterol toàn phần 44% và giảm lượng LDL 35%, tác dụng này gần như tương đương với atorvastatin, là thuốc được ưu tiên lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân rối loạn mỡ máu hiện nay.

Tác dụng trên tim mạch, huyết áp

  • Tác dụng trên huyết áp:
  • Các nhà khoa học tại Trung tâm Y tế Đại học Vanderbilt (Mỹ) đã chứng minh rằng: uống Giảo cổ lam sẽ kích thích cơ thể sản xuất ra oxit nitric, chất này thúc đẩy quá trình lưu thông máu và có vai trò tích cực trong việc kiểm soát huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch.
  • Các nhà khoa học đã thử nghiệm lâm sàng trên 223 bệnh nhân được chia thành ba nhóm: Nhóm 1 dùng nhân sâm, nhóm 2 dùng giảo cổ lam và nhóm 3 dùng thuốc huyết áp Indapamide. Kết quả thu được, nhân sâm chỉ giảm chỉ số huyết áp 46%, Giảo cổ lam là 82% và thuốc Indapamide là 93%. Như vậy, sử dụng Giảo cổ lam có ý nghĩa rõ ràng trong hỗ trợ điều trị bệnh tăng huyết áp.
  • Gần đây, GS.TSKH. Trần Văn Sung (nguyên Viện trưởng Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam) còn phát hiện ra hoạt chất Adenosin trong giảo cổ lam 5 lá. Adenosin rất tốt cho những người tim mạch (làm giảm rõ rệt những cơn đau tim), bởi adenosin có khả năng tạo năng lượng rất mạnh, tăng khả năng chịu đựng của cơ tim, kích hoạt giấc ngủ sinh lý, giúp dễ ngủ.

Tác dụng chống khối u

  • Năm 2011, Tạp chí Dược học số 5/2011 đã đăng tải nghiên cứu của GS.TS Phạm Thanh Kỳ và PGS.TS Trần Lưu Vân Hiền (Viện Y học cổ truyền Nguyễn Bỉnh Khiêm) chứng minh chiết xuất Giảo cổ lam có tác dụng ngăn ngừa và kìm hãm sự phát triển khối u một cách rõ rệt.
  • Năm 2012, GS.TS Phạm Thanh Kỳ tiếp tục phối hợp với các cộng sự Hàn Quốc, đã tìm thấy 7 hoạt chất saponin mới trong cây Giảo cổ lam Việt Nam và đặt tên là gypenoisd VN 01-07. Các chất này được chứng minh có khả năng tiêu diệt mạnh các tế bào ung thư bạch cầu, phổi, đại tràng, vú và tử cung.

Giảo cổ lam làm tăng đáp ứng miễn dịch

  • Giảo cổ lam giúp tăng cường sinh lực do có các saponin có cấu trúc giống saponin trong nhân sâm giúp cơ thể cân bằng tối ưu bằng cách cân bằng hormon nội tiết, hệ miễn dịch, hệ thần kinh và các chức năng sinh học khác.
  • Giảo cổ lam có tác dụng tăng đáp ứng miễn dịch trên chuột ở cả 2 mô hình gây ức chế miễn dịch bằng Cyclophosphamid và tia xạ với liều thí nghiệm (3,4mg cao đặc/20g chuột/ngày).

Cụ thể, saponin toàn phần trong GCL:

  • Có tác động rõ rệt lên sự ức chế miễn dịch gây ra bởi Cyclophosphamide khi thử nghiệm trên động vật, dẫn đến sự phục hồi ở chuột được dùng Cyclophosphamide về phương diện khối lượng các cơ quan miễn dịch, hàm lượng chất tan huyết và sự tăng rõ rệt hoạt tính của tế bào NK, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh với nhóm đối chứng dùng Cyclophosphamide (p < 0,005-0,01).
  • Có tác động điều hòa miễn dịch 2 chiều trên chuột khỏe mạnh bình thường, phục hồi các chỉ số miễn dịch từ cao hơn hoặc thấp hơn trị số trung bình về trị số bình thường, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh với nhóm chứng dùng Cyclophosphamide.
  • Có tác dụng ngăn chặn mệt mỏi, giúp cơ thể chịu đựng được tình trạng thiếu oxy dưới áp suất khí quyển bình thường.

Một số sản phẩm có thành phần Giảo cổ lam trên thị trường hiện nay

Trà Giảo cổ lam Tuệ Linh

Công dụng:

♦ Giúp giảm mỡ máu, giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, ổn định huyết áp và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

♦ Giúp giảm đường huyết và phòng ngừa các biến chứng của bệnh tiểu đường.

Giảo cổ lam làm tăng đáp ứng miễn dịch 1

Hình ảnh sản phẩm Trà giảo cổ lam và Viên uống giảo cổ lam

Cao khô Giảo cổ lam

♦ Cao Giảo cố lam Tuệ Linh với thành phần 100% cao khô dược liệu nguyên chất.

♦ Dược liệu được sản xuất trên dây chuyền hiện đại đảm bảo chất lượng và hàm lượng hoạt chất cao nhất.

♦ Đối tượng sử dụng: Người mỡ máu, huyết áp cao, mắc bệnh tim mạch; mắc bệnh tiểu đường tuýp 2; thường xuyên mệt mỏi, căng thẳng, khó ngủ.

Giảo cổ lam làm tăng đáp ứng miễn dịch 2

Hình ảnh sản phẩm Cao khô giảo cổ lam

Trên đây là một số thông tin về hình ảnh, liều lượng công dụng của cây Giảo cổ lam. Nếu cần tư vấn và tìm hiểu thêm về cây Giảo cổ lam và các loại cây dược liệu khác bạn có thể liên hệ qua số tổng đài tư vấn 1800.1190 (miễn phí tư vấn) hoặc đặt câu hỏi của bạn ở mục ý kiến ở cuối bài viết, Tra cứu dược liệu sẽ giải đáp những thắc giúp bạn có thêm những thông tin đáng tin cậy.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/giao-co-lam.html/feed 0
Ngô đồng https://tracuuduoclieu.vn/ngo-dong-2.html https://tracuuduoclieu.vn/ngo-dong-2.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:22:40 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57061 Mô tả
  • Cây to, cao 20 – 30m.
  • Lá đa dạng, kép chân vịt, mọc so le, hình tim, từ nguyên đến xẻ 3 – 5 thuỳ hình tam giác, gốc xẻ sâu thành 2 thuỳ tròn to, đầu từ thuôn nhọn, hai mặt hơi có lông, sau nhẵn; cuống lá dài.
  • Cụm hoa mọc ở ngọn thành chùy phân nhánh, có lông mềm; đài 5 răng hình trứng ngắn, có lông sắt ở mặt ngoài. Hoa đực có cuống bộ nhị nhăn và bầu lép có lông, chia 5 cạnh. Hoa lưỡng tính có bầu hình cầu có lông, vòi nhụy ngắn, đầu nhụy chia 5 thuỳ.
  • Quả gồm 5 đại, mở trước khi chín, hạt hình cầu.
  • Mùa hoa: tháng 5 – 7; mùa quả: tháng 8 – 10.

Phân bố, sinh thái

Chi Firmiana Marsili ở Việt Nam chỉ có 2 loài. Một loại phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc, và loài ngô đồng chỉ thấy ở phía Nam: Khánh Hoà (Cam Ranh, Nha Trang) và Bà Rịa – Vũng Tàu (Bà Rịa), Quảng Nam (Cù Lao Chàm) và có thể có ở Ninh Thuận, Bình Thuận.

Ngô đồng là cây gỗ mọc nhanh, ưa sáng và có khả năng chịu hạn tốt. Cây thường mọc ở rừng thưa nửa rụng lá hoặc rừng khô ở vùng ven biển. Cây cũng được trồng để lấy sợi (Từ điển cây thuốc Việt Nam, 1997). Cây trưởng thành ra hoa quả hàng năm. Tái sinh tự nhiên tốt từ hạt.

Bộ phận dùng:

Rễ, vỏ, hoa, hạt và lá.

Thành phần hóa học

Hạt chứa 40% dầu, thành phần chính là acid sterculic, palmitic, oleic, linoleic và cafein [Võ Văn Chi, 1996, Từ điển cây thuốc Việt Nam, tr 97], [Phạm Hoàng Hộ, 2006, Cây có vị thuốc ở Việt Nam, tr.103].

Theo các tác giả Trung Quốc, ngô đồng chứa nhiều triterpen [Trung dược từ hải, vol.3, p.209 – 212]. Ngoài ra còn tìm thấy β – amyrin, betain, cholin (CA, 1991, 115, 46076a) lupeol, octacosanol (CA, 1991, 114, 139814j), kaemferol – 3- O – β – D – rutinosid (CA,1991, 114, 244264C) [Fitoterapia 1990, 61 (4) 373], quercetin – 3- O – β – D – neohespe – ridosid, hyperosid và glucosamin [CA, 1991, 115, 46076a].

Tác dụng dược lý

Tác dụng chống loạn tâm thần:

Một neolignan mới là simplidin có tác dụng chống loạn tâm thần (antipsychotic effect) đã được phân lập từ cao n – butanol của thân cây ngô đồng (Son YK et al., 2005).

Độc tính cấp:

Cao chiết nước toàn cây ngô đồng (cả gỗ thân, cành và lá) thử trên chuột nhắt trắng tiêm tĩnh mạch có liều chết trung bình LD50 = 8,3g/kg thể trọng chuột [Kee Chang Huang, 1999: 124].

Tác dụng trên cholesterol huyết và huyết áp:

Cao chiết bằng ethanol toàn cây ngô đồng làm giảm hàm lượng cholesterol trong huyết tương, nhưng không ảnh hưởng đến hàm lượng triglycerid. Cao cũng có tác dụng giãn mạch, làm tăng lưu lượng mạch vành và làm giảm huyết áp ngoại biên [Tài liệu đã dẫn].

Tính vị, công năng

  • Rễ và vỏ cây ngô đồng vị đắng, tính mát, có công năng trừ phong thấp, tiêu viêm, sát trùng.
  • Hoa và hạt vị ngọt tính bình, có công năng nhuận phế, hoà vị, tiêu tích trệ.
  • Lá ngô đồng vị ngọt, tính bình, có công năng thanh nhiệt giải độc, an thần, giáng tiêu viêm, làm hạ cholesterol.

Công dụng

Rễ ngô đồng được dùng chữa thấp khớp, viêm khớp dạng thấp, đau nhức xương. Ngày dùng 15 – 30g sắc lấy nước uống. Có thể dùng lá thay rễ còn dùng chữa lao phổi, thổ huyết, bạch đới, đòn ngã tổn thương.

Vỏ cây ngô đồng được dùng chữa trĩ, lòi dom, tóc bạc. Lấy vỏ cây hoặc vỏ cành bỏ lớp bần ở ngoài, chỉ lấy lớp trắng ở bên trong, đốt thành than nghiền thành bột trộn với dầu thực vật, rồi bối vào chỗ trĩ hoặc bôi vào chân tóc bạc.

Lá ngô đồng được dùng chữa cao huyết áp, bệnh mạch vành, tăng cholesterol huyết. Lấy lá ngô đồng 5 – 10g (10 – 20g tươi) sắc uống, ngày 1 thang. Để chữa thấp khớp đau nhức xương, suy nhược thần kinh, di tinh, bất lực, dùng 15 – 30g sắc uống, ngày một thang. Dùng ngoài, lấy lá khô, tán thành bột mịn hòa với mật ong bôi lên chỗ sưng tấy, mụn nhọt, lở loét.

Hoa ngô đồng được dùng chữa thuỷ thũng, bỏng chốc đầu, lở loét ngoài da. Để chữa thuỷ thũng, lấy hoa ngô đồng 10 – 15g sắc uống, ngày một thang. Để chữa bỏng, chốc đầu, lở loét, lấy hoa ngô đồng khô tán thành bột mịn, hòa với dầu thực vật bôi lên chỗ đau.

  • Ở Trung Quốc, rễ ngô đồng cũng được dùng để trị thấp khớp, đau nhức xương, chống sưng, phù, ngoài cách sắc uống, nếu là tươi, có thể dùng 30 – 60g giã nát, vắt lấy nước uống. Vỏ cây cũng được dùng chữa trĩ và tóc bạc sớm. Hạt được dùng chữa trĩ, viêm miệng, lở loét ngoài da.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/ngo-dong-2.html/feed 0
Ráng lông https://tracuuduoclieu.vn/rang-long.html https://tracuuduoclieu.vn/rang-long.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:20:13 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57132 Mô tả
  • Ráng lông có thân rễ mọc bò, có lông, không có vảy, nhiều rễ mảnh nhỏ.
  • Lá mọc so le từ thân rễ, dài đến 1m, hình tam giác hoặc ngọn giáo, xẻ 2 – 3 lần lông chim, lá chét ở phía dưới mọc đối, có cuống dài, hình tam giác, dài đến 60 cm, rộng 25 cm, những lá chét này lại chia lông chim hai lần, lá chét ở phía trên hơi so le, hình lồng chim một lần hoặc có thể chở sâu, những đoạn phiến lá cuối cùng xiên, nguyên hoặc hơi khía tai bèo ở gốc.
  • Ở túi bào tử hình dải sinh ra ở mép ngoài của lá chét, có hai lớp áo, lớp trên gập xuống nhiều hay ít; bảo tử hình bốn mặt, màu vàng nâu.

Phân bố, sinh thái

Chi Pteridium Gled, ex. Scop. ở Việt Nam chi có 1 loại ráng lông kể trên. Theo Phan Kế Lộc (2001), loài này phân bố rộng rãi khắp trên thế giới, nhất là ở châu Á. Tại Việt Nam đã ghi nhận được về phân bố ở Lai Châu, Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hoà Bình (Mai Châu: Pà Cò), Nam Định (Giao Thuỷ: Giao Thiện), Kon Tum (Ngọc Hồi), Gia Lai (Mang Yang: núi Chư Tờ Mốc), Đăk Lăk, Lâm Đồng (Bi Đáp) và Côn Đảo [Danh lục các loài thực vật Việt Nam, t.1, 2001].

Ráng lông là loại cây trung bình, thường mọc thành đám lẫn trong tràng cỏ, rừng thứ sinh, rừng non hay sau nương rẫy.

Bộ phận dùng:

Thân, rễ.

Thành phần hóa học

Ráng lông chứa acid 3,4 – dilhydroxycinnamic, prumasin. Acid 3,4 – dihydroxycinnamic có tính kháng his – tanin. Ngoài ra, còn có aquilinan trong đó có các gốc của galactose, xylose, fucose và arabinose và các chất pterosin và pterosin F.

Các lá non chứa nhiều chất nhầy, protein 1,0%; chất béo 0,1%; cao chứa N tự do 5,6%; chất xơ 1,4%; chất vô cơ 0,6%; B – caroten 0,98 mg/100g.

Tác dụng dược lý

Tác dụng kháng nấm: Ráng lông có tác dụng kháng nấm mạnh như nấm Candida albicans, C. glabrata, C. tropicalis,…

Tính vị, công năng

  • Cây ráng lông vị ngọt, tính lạnh có công năng khu phong thấp, lợi niệu, thanh nhiệt, an thần, giáng áp, thu liễm, cầm máu.
  • Thân rễ và lá rất độc đối với cá, thỏ, trâu bò,…

Công dụng

Ráng lông được dùng để lợi tiểu, thanh nhiệt, an thần. Thân rễ còn dùng chữa phong thấp, trị sán, nhưng là vị thuốc độc nên khi dùng phải thận trọng. Liều dùng mỗi ngày 9 – 15g sắc uống.

Lá non có thể ăn sống như xà lách, hoặc ăn như măng tây, làm rau ăn thì dễ ngủ, nhưng không được ăn nhiều vì có thể gây đầy bụng, khó tiêu, mắt mờ. Trẻ con ăn thì chân yếu, chậm biết đi, ăn lâu, ăn nhiều thì giảm thọ.

Trước đây vào mùa đói kém, nhân dân lấy thân rễ để ăn. Thường chế thành bột, nhưng đắng, phải lọc rửa nhiều lần cho hết đắng. Người và gia súc có thể ăn, nhưng không được ăn nhiều, có hại cho sức khỏe.

  • Ở Vân Nam (Trung Quốc) thân rễ ráng lông được dùng chữa viêm xương khớp, thấp khớp, lỵ, huyết áp cao, phế kết hạch, ho ra máu, thoát giang và để khử trùng (tẩy giun sán). Để chữa thấp khớp, lấy thân rễ và cuống lá ngâm rượu tronguống, ngoài xoa.

Chú ý:

Ráng lông là một cây độc. Ngộ độc thường xảy ra ở loài ăn cỏ.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/rang-long.html/feed 0
Súp lơ https://tracuuduoclieu.vn/sup-lo.html https://tracuuduoclieu.vn/sup-lo.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:12:19 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57278 Mô tả
  • Cây thân thảo, sống hằng năm hoặc hai năm, cao 30 – 40 cm. Thân ngắn, hình trụ, không phân nhánh.
  • Lá dày, mọc so le rất sít nhau, hình thuôn dài, mép lượn sóng, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt.
  • Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành ngù; hoa màu trắng có cuống mập, áp sát nhau tạo thành một khối dày đặc.
  • Quả cải, thuôn hẹp và dài, có mỏ nhọn.

Phân bố, sinh thái

Brassica oleracea L. là tên loài chung cho một nhóm các cây rau như su hào, bắp cải, súp lơ. Gọi là nhóm bởi vì trong su hào có su hào bánh xe, su hào vỏ trắng, vỏ xanh, vỏ tím. Trong bắp cải có loại trắng, xanh, tím… Còn súp lơ cũng có loại cuống hoa dài, ngắn với các màu của nụ hoa rất khác nhau. Theo quan điểm của các nhà phân loại thực vật thì mỗi nhóm cây su hào, bắp cải, súp lơ đều được xếp ở bậc “thứ” (varietas – var), trong trồng trọt lại gọi là “nhóm” (cv. group). Còn các loại khác nhau (về màu sắc) trong một “nhóm” hay “thứ” được gọi là “dạng” (forma – f).

Súp lơ có nguồn gốc ở vùng phía đông Địa Trung Hải. Cách đây khoảng trên 400 năm, cây được đưa vào trồng ở Italia, sau lan ra các nước ở Trung Âu và Bắc Âu. Đến cuối thế kỷ XVII, cây được nhập vào Ấn Độ, sau được thuần hoá trở thành cây thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm.

Ở Việt Nam, súp lơ có lẽ do người Pháp (có thể cả người Bồ Đào Nha) đưa vào cách đây khoảng 100 năm. Súp lơ trồng ở Việt Nam hiện nay khá đa dạng, gồm các giống hoa trắng, hoa xanh lơ và còn có cả giống hoa trắng điểm các chấm màu tím hồng. Song nhìn chung tất cả các giống này đều là loại cây ưa sáng, ưa ẩm và sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu mát.

Bộ phận dùng:

Phần trên mặt đất.

Thành phần hoá học

Súp lơ chứa nước 95%, protid 1,8%, carbohydrat 5,4%, cellulose 1,6%, tro 1,2%, phosphor 31 mg%, calci 4,8 mg%, sắt 1,1 mg, magnesium 30 mg%. Hàm lượng vitamin C chi kém cà chua, cao hơn cà rốt 4,5 lần, hơn khoai tây, hành tây 3,6 lần (Võ Văn Chi, 1997).

Súp lơ chứa 3 – sophorosid – 7 – kaempferol, quercetin và isorhamnetin (lá).

Tác dụng dược lý

  • Súp lơ có tác dụng hạ đường máu.
  • Chế phẩm từ súp lơ làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần và lipoprotein tỷ trọng thấp – cholesterol trong huyết thanh.
  • Súp lơ chứa quercetin là một flavonoid có khả năng chống sinh ung thư.

Công dụng

Súp lơ là loại rau ăn quen thuộc của nhân dân Việt Nam và cũng được dùng làm thuốc như cải bắp.

Súp lơ được dùng đắp ngoài để trị nhiễm khuẩn và làm liền sẹo các vết thương, mụn nhọt, đồng thời là loại thuốc trừ sâu bọ đốt (ong, nhện).

Còn làm dịu đau trong bệnh thấp khớp, thống phong, đau dây thần kinh hông, lấy cụm hoa của súp lơ thái mỏng, hơ nóng cho mềm rồi đắp trên các phần bị đau.

Dùng cụm hoa súp lơ sắc uống trị ho, lỵ, làm thuốc an thần, trị mất ngủ và chữa đau dạ dày, loét dạ dày. Súp lơ còn có tác dụng lợi tiểu, nhuận tràng và được dùng trị đái buốt, đái khó, táo bón.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/sup-lo.html/feed 0
Tần giao https://tracuuduoclieu.vn/tan-giao.html https://tracuuduoclieu.vn/tan-giao.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:09:45 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57290 Mô tả
  • Cây thảo nhỏ, sống nhiều năm, cao 30 – 60 cm. Rễ mập, dài khoảng 20 – 30 cm, màu trắng ngà. Thân hình trụ, mọc thẳng, nhẵn.
  • Lá mọc đối, có bè, hình mác hoặc hình trứng dài 6 – 28 cm, rộng 2,5 – 6 cm, gốc thuôn hẹp, đầu nhọn, hai mặt nhẵn, gân song song, 5 -7.
  • Hoa không cuống, mọc tụ họp ở kẽ lá gần “gọn thành cụm nhiều hoa, đôi khi chỉ vài cái lẻ “; hoa màu lơ hay lơ tím; đài 4 – 5 răng 0,5 – 1 mm, hợp thành ống, tràng hình trụ có gốc màu vàng nhạt, cánh hoa 3 – 4,5 mm; nhị đính ở nửa của ống tràng, chỉ nhị 5 -7 mm, bao phấn hẹp 1,2 – 2,5 mm.
  • Quả hình trứng – ellip, dài 1,5 – 1,7 cm, có nhiều hạt màu nâu sáng.
  • Mùa hoa: tháng 7- 10.

Bộ phận dùng:

Rễ đã được phơi hay sấy khô của nhiều loài tần giao gồm: tần giao (Gentiana macrophylla Pall.) và thô kinh tần giao (Gentiana crassicaulis Duthic ex Burk.); ma hoa tần giao = ma hoa giao (Gentiana staminea Maxim.), tiểu tần giao (Gentiana dahurica Fisch), họ Long đởm (Gentianaceae).

Rễ thu hoạch vào mùa xuân thu. Rễ đào lên, rửa sạch.

Thành phần hoá học

  • Rễ chứa gentianin, gentianidin, gentiopicrosid.
  • Ngoài ra còn có tinh dầu.

Tác dụng dược lý

Hoạt chất gentiopicrosid phân lập từ tần giao có hoạt tính chống viêm trên phù thực nghiệm bàn chấn chuột cống trắng gây bởi carragennin. Gentianin có tác dụng chống viêm mạnh gấp 2 lần so với aspirin.

Ngoài ra, tần giao còn có tác dụng chống quá mẫn cảm, kháng histamin, gây an thần, gây ngủ, làm giảm tần số đập của tim và huyết áp và tác dụng kháng khuẩn.

Cao nước rễ tần giao có hoạt tính trên hệ thân kinh trung ương. Gentiopierosid, một thành phần secoiridoid đắng chủ yếu phân lập từ rễ tần giao có tác dụng dự phòng tổn thương gan gây bởi hoá chất và miễn dịch ở chuột nhắt trắng.

Công dụng

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, tần giao được điều trị thấp khớp và sốt do thiếu khí và huyết, có tác dụng giảm đau, hạ sốt, lợi tiểu, chống nhiễm độc gan.

Tần giao còn được dùng làm thuốc bổ đối với hệ tiêu hoá, chức năng dạ dày, gan và túi mật [Huang K.C., 1999: 204; Darshan S. et al., 2004).

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/tan-giao.html/feed 0
Thông lá hán https://tracuuduoclieu.vn/thong-la-han.html https://tracuuduoclieu.vn/thong-la-han.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:05:16 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57372 Mô tả
  • Cây gỗ nhỏ hay cây bụi thường xanh. Thân và cành non màu lục, vỏ già nứt nẻ.
  • Lá mọc so le, hình dải, dài 2,5 -7 cm, rộng 3,5 mm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn, gân chính nổi rõ.
  • Bộ phận sinh sản là những nón đơn tính. Nón đực mọc riêng lẻ hay tụ họp ở kẽ lá gần đầu cành.
  • Nón cái ở kẽ lá có để mập.
  • Hạt hình cầu hay hình trứng, đường kính khoảng 5 mm, có cuống dài khoảng 1 cm, khi chín màu tím.

Phân bố, sinh thái

Trong 3 loài đã biết thuộc chi Podocarpus ở Việt Nam, có một loài – thông la hán là cây trồng. Thông la hán có nguồn gốc ở Trung Quốc và đã được đưa vào trồng ở đền chùa, các khu lăng tẩm từ lâu đời. Cây cũng được du nhập vào Việt Nam nhưng không rõ từ bao giờ.

Thông la hán là cây ưa ẩm, hơi chịu bóng nhưng cũng không hẳn là cây ưa sáng hoàn toàn.

Bộ phận dùng:

Vỏ rễ, quả.

Thành phần hoá học

  • Lá có các inumakilacton B, C, các chất sterol A, B, C, D, pomasteron A, hinokiflavon, neocryptomerin, sciadopitysin, podocarpus flavon A, B, cadinen, podocarpren.
  • Quả có các imakilacton A, B, C, D, E các nagilacton C, F.
  • Phấn hoa có amentoflavon, chất này có tính kháng nấm.

Tác dụng dược lý

Cao chiết lá tươi với methanol 80% có hoạt tính quét gốc tự do mạnh với nồng độ ức chế 50% (IC50) bằng 0,421 + 0,014 mg/ml (Fenglin H.et al., 2004).

Tính vị, công năng

Quả có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ huyết, an thần. Vỏ rễ có vị cay, tính ấm có tác dụng giải độc.

Công dụng

Quả thông la hán dùng trị tim hồi hộp do huyết hư, bệnh loạn nhịp tim, mất ngủ. Liều dùng 3 – 10g.

Vỏ rễ dùng ngoài trị mụn ghẻ, nấm ngoài da [Võ Văn Chi, 1997: 1178].

  • Ở Trung Quốc, nước sắc quả thông la hán được dùng uống làm thuốc bổ thận và phổi. Vỏ rễ được dùng chữa nấm da, nấm lông, bệnh ghẻ, tổn thương do chấn thương. Lá trị ho ra máu, nôn ra máu. Vỏ cây P.macrophyllus var. maki được dùng trị giun, đặc biệt giun đũa và trị các bệnh về máu. Quả có tác dụng tốt với phổi, đặc biệt có tác dụng bổ thận, chữa bệnh tim và đau dạ dày [Perry L.M., 1980: 402, Fenglin H. et al., 2004).
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/thong-la-han.html/feed 0
Thông mộc https://tracuuduoclieu.vn/thong-moc.html https://tracuuduoclieu.vn/thong-moc.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:04:57 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57374 Mô tả
  • Cây nhỡ, cao 3 – 5m, ít phân cành. Thân có gai và lõi xốp.
  • Lá to, mọc so le, kép lông chim 2 – 3 lần, lá chét mọc đối, hình trứng, gốc tròn, đầu nhọn, nguyên hoặc có ít răng ở đầu lá, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông màu hung đỏ.
  • Cụm hoa mọc ở ngọn thành chuỳ tán toả rộng, mọc thẳng đứng hoặc rủ xuống, cuống có gai to; hoa nhỏ màu lục nhạt; đài có 5 răng nhọn; trang 5 cánh mỏng; nhị 5; bầu hạ, có 5 ô.
  • Quả hình cầu, đường kính 2 – 3 mm, khi chín màu đen hay nâu.
  • Mùa hoa quả: tháng 10 – 2.

Phân bố, sinh thái

Chi Aralia L., có đến 15 loài ở Việt Nam (Hà Thị Dung, 1985). Loài thông mộc có nguồn gốc ở vùng Đông Á (thuộc Trung Quốc). Ở Việt Nam, mộc thông phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn… ở độ cao từ 500 đến 1.600m. Còn ở phía Nam, thông mộc chỉ thấy ở vùng núi cao trên 1.500m thuộc tỉnh Kon Tum và Lâm Đồng.

Thông mộc thuộc loại cây bụi hay gỗ nhỏ, ít phân cành. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng khi còn nhỏ. Trong tự nhiên, thường thấy mọc rải rác ở ven rừng kín thường xanh ẩm, bán các hành lang ven suối ở cửa rừng.

Bộ phận dùng:

Vỏ rễ, vỏ thân

Thành phần hoá học

  • Hạt chứa 20% dầu béo (Võ Văn Chi, 1997).
  • Zhang Dengke et al., 1991 đã phân lập được một saponin [CA 120: 38125 d]
  • Vỏ rễ, vỏ cành chứa arabin, acid oleanolic, acid protecatechic, tinh dầu [Trung được từ hải III, 1997].

Tính vị, công năng

Thông mộc có vị ngọt và hơi đắng, tính bình, có tác dụng khư phong, lợi tiểu, hoạt huyết, tán ứ, kiện vị, tiêu viêm, giảm đau.

Công dụng

Rễ thông mộc được dùng trị thấp khớp, đau lưng, viêm gan, vàng da, cổ trướng, đau dạ dày, đau ruột, viêm thận, phù thũng, đái đường, bạch đới; viêm hạch bạch huyết, đau dây thần kinh. Liều dùng: 15 – 30g rễ, dạng thuốc sắc. Phụ nữ có thai phải thận trọng khi dùng.

Dùng ngoài, rễ cây tươi giã đắp trị đòn ngã tổn thương và viêm mủ da. Lá tươi giã đắp trị rắn cắn.

Bài thuốc có thông mộc

  1. Chữa viêm gai cột sống: Vỏ rễ thông mộc tươi 30 – 60g, nấu với thịt lợn nạc ăn. Và nấu rễ lấy nước tắm rửa.
  2. Chữa vàng da, cổ trướng: Rễ thông mộc 60g, thịt lợn nạc 120g nấu chín với nước ăn trong ngày.
  3. Chữa đau vùng thượng vị, đái tháo đường, ung thư dạ dày: Vỏ rễ thông mộc 10 – 15g, sắc uống ngày một thang.
  4. Chữa ung thư dạ dày: Vỏ rễ thông mộc, long đờm thảo, mỗi vị 15g, mẫu đơn bì 10g; đại hoàng, mộc hương, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/thong-moc.html/feed 0
Tô hạp https://tracuuduoclieu.vn/to-hap.html https://tracuuduoclieu.vn/to-hap.html#respond Mon, 02 Aug 2021 06:03:40 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=57276 Mô tả
  • Cây to, cao 10 – 20m.
  • Lá mọc so le, hình bầu dục hoặc ngọn giáo, dài 5 – 12 cm, rộng 3 – 3,5 cm, gốc hình nêm, đầu ngắn nhọn gần tù, mép khía răng, hai mặt nhẵn màu nâu, gân mạng rất rõ ở mặt dưới; cuống lá dài 8 – 13 mm.
  • Hoa đơn tính; hoa đực mọc thành bông hình trụ, dài khoảng 2,5 cm; hoa cái mọc thành đầu tròn trên một cán dài 5 – 6 cm.
  • Quả hình trái xoan, có vòi tồn tại, đường kính 1,7-2,5 cm.
  • Mùa hoa quả: tháng 1 – 5.

Bộ phận dùng:

Dầu nhựa và rễ.

Phân bố, sinh thái

Chi Altingia Noronha ở Việt Nam đã biết có 7 loài, trong đó có loài tổ hợp (hay còn gọi là tổ hợp tàu). Cây phân bố ở một số tỉnh miền núi, như Lai Châu (Mường Tè), Lào Cai (Sa Pa), Quảng Ninh (Hoành Bồ); có tài liệu cho biết còn có ở Khánh Hoà (Nguyễn Tiến Bân, 2003, Vu Van Dung, et al., 2009). Trên thế giới, loài này chỉ thấy ở Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam).

Tô hạp là loại cây gỗ lớn, có thể cao tới 35m. với đường kính thân tới 1m; thường mọc ở rừng kín thưởng xanh, lẫn với một số loài Dé, Sồi, Kháo, Dung… nhưng thường vượt lên khỏi tán.

Tính vị, công năng

Dầu nhựa tổ hạp vị ngọt, tính hơi ấm, mùi thơm, vào hai kinh tâm và tỳ, có công năng ha đờm, chỉ khái, thông khiếu, sát trùng phòng trừ bệnh truyền nhiễm.

Công dụng

Dầu hoặc nhựa tổ hợp được dùng chữa bệnh đường hô hấp như ho, hen suyễn; các bệnh thần kinh như trúng phong, trung khí độc bị ngất, răng cắn chặt, kinh giật và phòng trừ các bệnh truyền nhiễm như cảm cúm, các bệnh nhiễm đường hô hấp, ỉa chảy, thổ tả, sốt rét. Liều dùng mỗi ngày 0,4 – 1,2g chia làm 2 – 3 lần.

Nếu là nhựa, mài với nước uống; nếu là dầu, hòa với nước hoặc rượu uống, có thể dùng riêng, nhưng thường phối hợp với các vị thuốc khác làm thành viên hoặc phiến, khi dùng mài với nước rồi uống.

Rễ tô hạp cũng có công dụng như trên, nhưng thường được dùng trị phong thấp, đòn ngã. Ngày dùng 2 – 5g, sắc uống, ngâm rượu hoặc tán bột uống.

Ở Việt Nam, có nhiều loại tô hạp vẫn dùng thay thế cho nhau được lấy từ các cây khác nhau như tô hạp bình khang (Altingia gracilipes Hemsl.), tô hạp cao (Altingia excelsa Noronha.) những loài cây này. Độ cao phân bố từ khoảng 750 – 1.700m. Cây có thể ra hoa quả hàng năm, vào tháng 1 – 3 có hoa và quả chín vào tháng 10 – 11, tái sinh tự nhiên bằng hạt và trong giai đoạn cây mạ cho đến 10 năm tuổi là cây ưa bóng và chịu bóng.

Bài thuốc có tô hạp

Chữa trúng phong, trung khi độc bị ngất, cơ kinh giàn, răng cắn chặt, cơn hen:

Lấy dầu tổ hạn trộn với bột an tức hương (nhựa của cây cảnh kiến trắng, còn gọi là cây bồ đề Styrax tonkinensis Pierre) lượng vừa đủ để làm thành viên bằng ngón tay. Khi dùng, mài với rượu hoặc nước nóng cho bệnh nhân uống mỗi lần 0,6 – 0,8g, ngày 4 – 5 lần. Kết hợp dùng ngoài, xoa vào mũi, ngực, rốn và lòng bàn chân [Lê Trần Đức, 1997: 296].

Cách lấy nhựa và dầu tổ hợp như sau:

  • Lấy nhựa: Chích nạo vỏ cây cho nhựa chảy ra và hứng lấy như hứng nhựa thông hoặc nhựa bồ đề. Cách này tốn công và nhựa thường có lẫn tạp chất.
  • Lấy dầu: Vào mùa hè, dùng dao sắc thiên sâu từng khoanh vỏ. Đợi một vài tháng, nhựa se lại, vỏ hơi héo thì nay vỏ, bóc về, chẻ nhỏ, cho vào nồi, đổ vừa ngập nước, đun, dầu sẽ nổi lên trên mặt nước, gạn lấy dầu. Dầu này đặc sền sệt, màu nâu xám (Lê Trần Đức, 997: 296].
]]>
https://tracuuduoclieu.vn/to-hap.html/feed 0
Đỏm lông https://tracuuduoclieu.vn/dom-long.html https://tracuuduoclieu.vn/dom-long.html#respond Wed, 14 Jul 2021 16:56:21 +0000 https://tracuuduoclieu.vn/?post_type=dl&p=56548 Mô tả
  • Cây nhỡ hoặc cây to, có thể cao đến 20m. Cành mềm có lông màu hung.
  • Lá mọc so le, hình clip hoặc bầu dục, dài 4 – 12 cm, rộng 2 – 4,5 cm, gốc tròn, đầu tù, mặt trên nhẵn hoặc có ít lông ở gần, mặt dưới lông màu nhạt, mép nguyên; cuống lá mảnh, dài 3 – 6 mm, có lông tơ, lá kèm sớm rụng.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành đầu tròn nhiều hoa lưỡng tính, lá bắc rất nhỏ, gần như nhẵn, hoa đực có 5 lá đài, hình bầu dục – tam giác, dài khoảng 2 mm, nhẵn, 5 cánh hoa hình mắt chim, có răng tròn; nhị 5, chỉ nhị ngắn, nhụy lép hình trứng ngược hoặc gần hình cầu có 5 cạnh; hoa cái có 5 lá đài, hình tam giác nhọn, dài 1,2 – 1,5 mm, 5 cánh hoa hình thoi, bầu có 5 noãn đảo.
  • Quả gần hình cầu, đường kính 4 – 6 mm, hạt 2, mặt trong có rãnh.
  • Mùa hoa quả: tháng 4 – 7.

Phân bố, sinh thái

Chi Bridelia Willd. có 11 loài ở Việt Nam, trong đó có 4 loài được dùng làm thuốc (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2003 và Võ Văn Chi, 1997).

Đỏm lông có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Ấn Độ hoặc ở Mianma, hiện nay cây phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước Đông Nam Á, Nam Á và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, đỏm lông phân bố rải rác khắp các tỉnh thuộc vùng núi thấp, đến trung du và đối khi còn gặp ở vùng đồng bằng ven biển (các tỉnh miền Trung).

Đởm lông là loại cây bụi ưa sáng, có khả năng chịu hạn tốt do có bộ rễ cọc cắm sâu dưới đất. Cây ra hoa quả nhiều hằng năm. Quả chín là thức ăn của chim và động vật gặm nhấm. Đỏm lông tái sinh tự nhiên tốt từ hạt và ở các cây còn nhỏ có khả năng tái sinh cây chồi, từ phần gốc còn lại sau khi chặt.

Bộ phận dùng:

Vỏ rễ và lá.

Thành phần hóa học

  • Vỏ cây chứa từ 16 – 40% tanin, cho nên ở Ấn Độ được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất tanin (The Wealth of raw material in India, 1952).
  • Theo các tác giả Trung Quốc (Trung Dược đại từ điển, 1975), đỏm lông chứa flavonoid, 3β – ol, fridelin, β – sitosterol và stigmasterol.

Tính vị, công năng

Đỏm lông có vị nhạt, hơi đắng chát, tính bình, có tác dụng an thần, điều kinh, thanh nhiệt, giải độc.

Công dụng

Vỏ rễ đỏm lông và lá được dùng chữa thần kinh suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau dạ dày, đau bụng.

Rễ còn dùng chữa thấp khớp, đau nhức xương, dùng cho phụ nữ sau khi đẻ được 3 ngày để phòng bệnh hậu sản.

Lá còn dùng chữa sốt, mụn nhọt, lở ngứa.

  • Ở Campuchia, quả chín dùng ăn và trị tưa lưỡi, sởi.
  • Ở Malaysia, vỏ cây dùng để thuộc da, nước sắc lá chữa sốt cao, đau dạ dày, đau bụng, nước sắc lá cũng dùng cho phụ nữ sau khi sinh.
  • Ở Đài Loan cho rằng toàn cây có độc (Perry và Metzger, 1980. Med.plants of East and Southeast Asia).
  • Ở Vân Nam (Trung Quốc) rễ và lá đỏm lông được dùng trị suy nhược thần kinh, kinh nguyệt không đều, mụn nhọt, lở loét.
    Liều dùng rễ 15 – 30g, thân lá 30 – 60g sắc uống. Dùng ngoài, lấy lá tươi hoặc vỏ thân rửa sạch, giã nát, đắp lên chỗ mụn nhọt, lở ngứa.

Bài thuốc có đỏm lông

Chữa đau dạ dày: Lá đỏm lông, lá ổi, rễ cây sim rừng (Rhodamnia dumetorum (Poir.) Merr. et Perry), các vị bằng nhau 30g, sắc đặc, uống.

]]>
https://tracuuduoclieu.vn/dom-long.html/feed 0