Mục lục
Mô tả cây
Hình thái: Là một loại cây thân thảo bò lan trên mặt đất, có thể dài tới 150 cm, và có rễ ở các đốt. Rễ cọc màu trắng hoặc nâu. Thân cây tròn, đặc và có lông.
Lá: Lá kép, có 3 lá chét, mọc so le, có cuống. Các lá chét có hình elip hoặc hình trứng ngược, nhẵn cả hai mặt, mép lá nguyên, đầu lá tù hoặc hơi lõm, gốc lá tròn, gân lá hình lông chim.
Hoa: Hoa lưỡng tính, mọc đơn độc hoặc thành cụm ở ngọn hoặc nách lá, có cuống. Cánh hoa có 5 cánh, màu trắng, hồng, đỏ hoặc tím.
Quả: Quả là loại quả đậu có đốt.
Sinh sản: Cây sinh sản bằng hạt và có khả năng lan rộng tự nhiên thông qua các thân bò lan và khả năng rụng hạt.
Phân bố, thu hái và chế biến
Trên thế giới: Cây này có nguồn gốc từ quần đảo Mascarene đến Ấn Độ, Đông Nam Á, Philippines và Đài Loan. Hiện nay, nó đã được tự nhiên hóa rộng rãi ở Thái Bình Dương, về phía đông đến Hawaii.
Ở Việt Nam: Cây này được biết đến với tên “cỏ hàn the”, mọc hoang ở bãi cỏ ven bờ ruộng ở khắp nơi nước ta. Nhân dân dùng toàn cây tươi hay phơi hoặc sấy khô. Mùa thu hái gần như quanh năm.
Trung Quốc: Cây phân bố ở nhiều tỉnh thành như: An Huy, Phúc Kiến, Giang Tây, Quảng Đông, Hải Nam, Quảng Tây, Vân Nam và Đài Loan.
Môi trường sống: Mọc ở độ cao từ gần mực nước biển đến khoảng 1.000 m, thường thấy ở đồng cỏ, bãi hoang, khu dân cư, và đôi khi dọc theo các đường mòn trong rừng. Cây thường mọc ở ven sông, ruộng, đường đi và bãi cỏ, ở độ cao 250–480 mét.
Thành phần hóa học
Các thành phần hóa học chính được phân lập từ Cỏ hàn the bao gồm các isoflavonoid và alkaloids, trong đó một số isoflavonoid như dalbergioidin và genistein có hoạt tính sinh học đáng chú ý, đặc biệt là khả năng ức chế enzyme tiêu hóa.
Isoflavonoids: Các nghiên cứu đã xác định được năm isoflavonoid từ phần trên mặt đất của cây, bao gồm một isoflavanone mới là (3R)-2′,4′,5,7-tetrahydroxy-6-methylisoflavanone (1), cùng với dalbergioidin (2), 4′,5,7-trihydroxy-3′-methoxyisoflavone (3), 2′,4′,5,7-tetrahydroxyisoflavone (4), và genistein (5).
Các hợp chất khác: Ngoài isoflavonoid, cây Desmodium heterophyllum còn chứa các alkaloid.
Các nghiên cứu cụ thể về các hợp chất isoflavonoid đã chỉ ra:
- Hợp chất mới (1): (3R)-2′,4′,5,7-tetrahydroxy-6-methylisoflavanone, có công thức phân tử là C16H14O6 và được xác định cấu trúc bằng các phương pháp phổ nghiệm.
- Dalbergioidin (2) và genistein (5): Hai hợp chất này có khả năng ức chế enzyme tiêu hóa α-amylase và α-glucosidase. Dalbergioidin có IC50 là 162.8 µM đối với α-amylase và 412.6 µM đối với α-glucosidase, trong khi genistein có IC50 là 110.4 µM đối với α-amylase và 257.3 µM đối với α-glucosidase.
- Các hợp chất khác: Các hợp chất 1 và 3 có tác dụng ức chế α-glucosidase, trong khi hợp chất 4 không có tác dụng.
Tác dụng dược lý
Trong một nghiên cứu sử dụng cỏ hàn the kết hợp với các loại thảo dược khác để điều trị sỏi niệu quản, 89 bệnh nhân đã tham gia vào một liệu trình điều trị như sau: Mỗi ngày uống một thang thuốc sắc, kết hợp với điện châm, điều trị 6 ngày một tuần, mỗi liệu trình kéo dài từ 18 đến 24 tháng, giữa hai liệu trình nghỉ 7 ngày. Nếu bệnh không khỏi, bệnh nhân sẽ tiếp tục liệu trình thứ hai.
Kết quả cho thấy 57% bệnh nhân đạt hiệu quả tốt, đi tiểu ra sỏi (sỏi cản quang calci oxalat và carbonat kích thước nhỏ hơn 0,5 cm), hoặc hình ảnh X-quang không còn sỏi, xét nghiệm nước tiểu lâm sàng trở lại bình thường. 17% bệnh nhân đạt hiệu quả vừa, kích thước sỏi giảm, di chuyển xuống vị trí thấp hơn, và 26% bệnh nhân không thấy kết quả.
Tính vị
Hàn the vị nhạt, hơi chua, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, tiêu đờm, sát trùng, thông tiểu
Công dụng và liều dùng
Tại Việt Nam, hàn the được dùng làm thuốc uống trong chữa sốt nóng, ho có đờm. Dùng ngoài giã nát đắp lên vết thương, vết loét. Dùng trong: ngày uống 10-20g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm. Dùng ngoài không kể liều lượng. Ngoài ra, còn dùng cỏ hàn the chữa đái buốt, đái ra máu, nước tiểu vàng như sau:
- Dùng 30 g mỗi vị hàn the, củ gai, giã nhỏ, chế nước rồi vắt lấy nước cốt uống, cách khác là thái nhỏ rồi sắc
- Dùng 30g hàn the tươi, 30g Mộc Tặc rồi rửa sạch thái nhỏ, sao vàng thơm, đun sôi với 300ml nước trong 30 phút, chia 2 lần uống trong ngày
Trong y học cổ truyền Campuchia, cành và lá được dùng để chữa bí tiểu và các vấn đề tiêu hóa. Rễ được cho là có tác dụng lợi trung tiện, bổ và lợi tiểu. Lá cũng được dùng để tăng tiết sữa.
Tại Malaysia, người dân thường dùng cỏ hàn the để chữa mụn nhọt, lở loét, đau tai và đau dạ dày.
Ở Ấn Độ, rễ cây được sử dụng như một vị thuốc giúp tiêu hóa tốt hơn, bổ cơ thể và lợi tiểu. Lá cây có tác dụng kích thích tiết sữa cho phụ nữ sau sinh. Toàn cây khi sắc nước uống có thể hỗ trợ giảm đau bụng và đau dạ dày.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, cây được sử dụng để thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu thông lâm, trị ho do phế nhiệt, đau họng, mụn nhọt, và các chứng phù nề. Rễ và lá cũng được sử dụng để chữa mụn nhọt, đau bụng và các bệnh về bụng.
Trong nông nghiệp: Cây được sử dụng làm cây họ đậu cho các đồng cỏ chăn thả gia súc ở vùng nhiệt đới ẩm. Cây có khả năng chịu được chăn thả mạnh. Cây cũng được sử dụng làm cây che phủ, ví dụ như trong các vườn tiêu ở Sarawak. Cây có khả năng cải thiện nồng độ nitơ trong đất khi trồng chung với các loại cỏ khác.