Mục lục
Mô tả
Rau tàu bay là một loại cây thân thảo mọc thẳng, có thể cao từ 20 đến 120 cm. Thân cây có các đường gân dọc rõ ràng.
Lá:
Lá của cây có dạng màng mỏng, hình bầu dục hoặc thuôn dài, dài khoảng 7-12 cm, rộng 4-5 cm. Phần đầu lá nhọn, gốc lá có hình dạng hình nêm. Mép lá có thể có răng cưa không đều hoặc răng cưa kép, đôi khi còn có dạng xẻ lông chim ở phần gốc. Cả hai mặt lá thường không có lông hoặc gần như không có lông. Cuống lá dài khoảng 2-2.5 cm.
Hoa:
Hoa của rau tàu bay mọc thành cụm ở đầu cành, tạo thành dạng tán xếp chồng, có đường kính khoảng 3 cm. Lá bắc của hoa xếp thành một lớp, hình mũi mác hẹp, dài bằng nhau, có viền mỏng dạng màng và đầu có một chùm lông nhỏ. Mỗi hoa nhỏ bên trong đều là hoa lưỡng tính dạng ống, có màu đỏ nâu hoặc cam đỏ. Cánh hoa phía trên có năm răng nhọn. Nhụy hoa có đầu hình cầu nhỏ, phân nhánh, đầu nhụy có lớp lông nhỏ như hạt sần.
Quả và hạt:
Quả của rau tàu bay có dạng trụ thuôn dài, màu đỏ thẫm, có gờ dọc và lông bao phủ. Phần lông tơ trên quả có số lượng rất nhiều, màu trắng, mềm mịn như lụa và dễ rụng.
Thời gian ra hoa và kết quả
Cây thường ra hoa từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm
Chú ý phân biệt:
Không nên nhầm lẫn cây rau tàu bay với cỏ tàu bay (cỏ hôi, cây bơm bớp, cây cỏ Lào, cây cộng sản) có tên khoa học là Chromolaena odorata (L) King et Robinson. Đây là loài cây cũng phát tán hạt như cây rau tàu bay, lá xào ăn được nhưng rất hôi, chủ yếu dùng để làm thuốc.
Phân bố, sinh thái
Chi Crassocephalum Moench chỉ có một loài là rau tàu bay ở Việt Nam. Cây có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Phi và Madagasca, sau phát tán đi khắp các vùng nhiệt đới khác, nhất là các nước ở vùng Nam Á, Đông Nam Á và cả ở châu Đại Dương.
Ở Việt Nam, rau tàu bay phân bố rộng rãi khắp các địa phương, từ vùng đồng bằng đến miền núi cao lạnh khoảng 1.500m trở xuống.
Điều kiện sinh trưởng:
Rau tàu bay ưa khí hậu ấm áp, ưa sáng, ẩm ướt và phát triển tốt trên đất màu mỡ.
Cây thường mọc hoang ở các khu vực có độ cao từ 300 đến 1800 mét, phổ biến tại:
- Đất trống ven đường, bờ suối, hoặc trong các bụi cây.
- Dưới tán rừng trên sườn đồi, nơi có độ ẩm cao.
- Khu vực râm mát gần mương nước hoặc những vùng đất ẩm.
Nhìn chung, rau tàu bay thích hợp với môi trường đất ẩm, giàu dinh dưỡng và có độ ẩm cao để phát triển mạnh.
Bộ phận dùng:
Ngọn non và lá.
Thành phần hoá học
Rau tàu bay chứa nước 93%, protein 2,5%, glucid 1,9%, cellulose 1,69%, dẫn chất không protein 3,7%, chất khoáng toàn phần 0,9%, trong đó có Ca 81 mg%, P 25%, caroten 3,4mg% và vitamin C 10mg% (Võ Văn Chi, 1997).
Công dụng
Rau tàu bay được dùng làm rau ăn sống hoặc luộc, xào, nấu canh, muối dưa. Khi nấu canh phải để lắng gạn, bỏ hết dầu, mới đỡ mùi hắc.
Theo sách y học Bản Thảo Cương Mục, rau tàu bay có các công dụng sau:
- An thần, điều hòa khí huyết – Giúp thư giãn tinh thần, ổn định khí huyết.
- Bổ tỳ vị, hỗ trợ tiêu hóa – Giúp tăng cường chức năng tiêu hóa, tốt cho dạ dày và đường ruột.
- Tiêu đờm, lợi tiểu – Hỗ trợ giảm đờm trong các bệnh về đường hô hấp và giúp lợi tiểu.
Ngoài ra, rau tàu bay còn được dùng để hỗ trợ điều trị các bệnh như:
- Cảm mạo, sốt cao
- Kiết lỵ, viêm ruột
- Nhiễm trùng đường tiết niệu
- Chữa rắn cắn
- Phù do suy dinh dưỡng
- Viêm tuyến vú ở phụ nữ cho con bú
Ở Campuchia, nhân dân dùng rau tàu bay để điều trị các biến chứng sau khi sinh.
Ở Nepal, cả cây hoặc rễ rau tàu bay chế thành dạng bột nhão đắp trị vết đứt, vết thương. Dịch ép lá cây rau tàu bay bối cũng trị vết thương.
Ở Nigeria, người ta dùng lá cây rau tàu bay chế thành thuốc xức dùng ngoài hoặc thuốc sắc uống để làm thuốc giảm đau trị nhức đầu và viêm gan.
Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây rau tàu bay
Chữa bệnh bướu lành như bướu cổ
Kết hợp 30 gram rau tàu bay khô và 30 gram cây xạ đen khô sắc với 1.2 lít nước. Sau khi nước thuốc cạn còn 500 ml, chia thuốc làm 3 và uống trong ngày. Kiên trì sử dụng 3 – 4 tuần.
Trị côn trùng cắn
Lấy 1 nắm lá rau tàu bay tươi, rửa sạch và giã nát. Sau đó đem phần bã đắp lên chỗ bị thương. Đắp liên tục 2 – 3 ngày thấy giảm sưng và đau. Do rau tàu bay có tác dụng cầm máu và chống viêm tốt.
Giải độc cơ thể, tăng cường sức khỏe và phòng ngừa ung thư
Dùng rau tàu bay nấu canh hoặc luộc ăn 2 – 3 lần mỗi tuần
Giảm đau khớp
Rau tàu bay tươi sau khi rửa sạch giã nát và đắp lên vùng xương khớp bị đau nhức.
Rau tàu bay giúp hạ sốt
Lấy 10 – 15 gram rau tàu bay khô sắc nước và uống. Uống liên tục 2 – 3 ngày, sẽ cắt sốt.
Chữa tiêu chảy hoặc lỵ ở trẻ nhỏ
Có thể lấy lá tàu bay tươi hoặc khô sắc lấy nước đều được. Cho trẻ uống mỗi ngày nếu trẻ bị tiêu chảy.
Điều trị phì đại (u xơ) tuyến tiền liệt
Để cải thiện tình trạng đau nhức hoặc tiểu buốt, khó chịu do bệnh phì đại tuyến tiền liệt gây bạn có thể sử dụng bài thuốc sau:
10g tau tàu bay, 15g Hải trung kim, 8g Sài hồ nam, 20g Náng hoa trắng.
Cho các nguyên liệu vào ấm đun cùng với 3 bát nước. Khi ấm sôi vặn nhỏ lửa và tiếp tục đun đến khi còn khoảng 1 bát nước thì đổ ra chén để uống. Tiếp tục sắc thêm 2 đến 3 lần nữa để uống làm 3 lần trong ngày sau ăn.
Những lưu ý khi sử dụng rau tàu bay
Cần lưu ý một số điều khi sử dụng rau tàu bay, đó là:
- Để khử mùi hăng của rau tàu bay, khi nấu canh bạn nên lắng phần dầu thừa nổi trên mặt nước, sau đó cho gia vị vào, sẽ ngon hơn.
- Không nên dùng nhiều hoặc trồng rau tầu bay làm rau vì ăn nhiều cũng không tốt.
- Nên kết hợp với nước mắm chanh hoặc làm các món gỏi với chanh hoặc giấm để tăng khả năng hấp thụ sắt.