Tam lăng

Tên tiếng Việt: Tam lăng, Lòng thuyền

Tên khoa học: Curculigo gracilis (Kurz) Wall. ex Hook. f. - Moliniera gracilis Kurz

Họ: Hypoxidaceae.

Công dụng: Thông kinh, ứ huyết (Rễ sắc uống)

Mô tả

  • Cây thảo lớn, sống lâu năm, cao khoảng 1m lá mọc từ gốc tạo thành một thân giả do các bẹ lá to áp sát nhau, hình dải – mũi mác, dài 40 – 60 cm, rộng 7 – 10 cm, gốc và đầu nhọn, hai mặt nhẵn gần như cùng màu xanh lục nhạt, gân nhiều song song, cuống lá dài 30 – 40 cm.
  • Cụm hoa mọc từ giữa túm lá trên một cán dài khoảng 20 cm, có lông mịn như len, thành đầu hình chùm dài 6 – 7 cm cong lại, bao bọc bởi nhiều lá bạc hình dài có lông râm, hoa nhiều màu vàng, đài có 3 răng thuôn nhọn, có lông ở mặt lưng, tràng có cánh giống lá dài nhưng nhỏ hơn, nhị 6 bằng nhau, xếp thành hai dãy, không có chỉ nhị; bầu hạ có lông dày đặc.
  • Quả hình bầu dục, có cuống và lông, hạt nhiều.

Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.

Phân bố, sinh thái

  • Tam lăng là tên gọi chung của một số loài cùng chi Curculigo gracilis. (trừ sâm cau), bởi chúng có hình dáng bên ngoài gần giống nhau.
  • Tam lăng phân bố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam) và ở hầu hết các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, đôi khi cả ở Tây Nguyên. Đó là loại cây đặc biệt ưa ẩm và ưa bóng, thường mọc thành khóm lớn dọc theo bờ suối, dưới tán rừng kín thường xanh với độ cao phân bố 400 – 1300 m. Cây ra hoa quả hàng năm, khi chín quả tự mở, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.

Bộ phận dùng

Thân rễ

Tính vị, công năng

Thân rễ tam lăng có tính ấm, có tác dụng phá tán, ứ trệ, thông kinh.

 Công dụng

Thân rễ tam lăng phối hợp với các vị thuốc khác chữa bụng đầy trướng, kiết lỵ, thủy thũng. Ngoài ra còn được dùng thay thế sâm cau. Ngày 20 – 30g sắc uống.

Bài thuốc có tam lăng

Chữa bụng đầy trướng, thực tích, khí uất, ngực sườn đau tức:

  • Rễ tam lăng (nướng) 12g, bồng nga truật (nướng) 12g, rễ rẻ quạt (tẩm rượu) 12g, hạt gấc bỏ vỏ (sao với rượu) 12g, hương phụ 16g, bình lang 16g, mộc thông 16g.
  • Tất cả tán nhỏ thành bột, mỗi lần 4g, hãm với nước sôi, uống vào lúc đói (Nam được thần hiệu).

Chữa kiết lỵ:

  • Tam lăng (sao) 80g, trần bì (sao đen) 80g, nga truật (sao) 80g, hắc sửu phơi khô sao vàng 30 phút, riềng (sao đen) 30g, bách thảo sương (rang) 40g, nhục đậu khấu 20g, liên kiều (để sống) 12g, sa nhân 12g, binh lang 30g.
  • Tất cả tán bột, luyện với đường làm thành bánh (20g đường, 80% bột thuốc). Người lớn: mỗi ngày 32g, trẻ em tùy tuổi 4 – 8g. Nếu ra nước mũi, dùng nước sắc gừng làm thang. Trường hợp ra máu lại dùng nước sắc cam thảo (Hải Thượng Lãn Ông)

Chữa thủy thũng:

Rễ tam lăng 20g, nga truật 20g, miết giáp (mai con ba ba) 20g, nguyên hoa 12g, thường sơn 8g, thảo quả 8g. Tất cả thái nhỏ, sắc uống 2 lần trong ngày.

Ý kiến của bạn