Mục lục
Mô tả cây cảo bản
Hình thái:
Cảo bản là cây thân thảo sống lâu năm, có thân thẳng đứng, rỗng bên trong, bên ngoài có các rãnh dọc.
- Lá: Mọc so le, lá gốc hình tam giác, dài khoảng 8 – 15cm, có cấu trúc hai lần xẻ lông chim, với mỗi lá chét có 3 – 4 cặp hình trứng, mép lá có răng cưa không đều, đầu nhọn. Cuống lá dài 9 – 20cm. Lá phía trên thân có bẹ mở rộng.
- Hoa: Cụm hoa tán kép, mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá. Mỗi cụm có 16 – 20 tán hoa nhỏ. Hoa màu trắng, gồm 5 cánh hoa hình bầu dục, hơi cuộn vào trong. Không có đài hoa. Nhị 5 cái, bao phấn hình bầu dục, nở dọc. Bầu nhụy nằm dưới, có 2 vòi nhụy nhỏ cong ngược.
- Quả: Quả bế đôi, hình trứng rộng, không có lông. Mỗi nửa quả có 5 sống dọc, giữa các sống có 3 ống tinh dầu, mặt trong có 5 ống tinh dầu.
- Thời gian ra hoa, kết quả: Hoa nở vào tháng 7 – 8, kết quả vào tháng 9 – 10.
Cấu trúc:
- Chất nhẹ, khá cứng và dễ gãy.
- Mặt cắt ngang có màu vàng hoặc vàng trắng, có nhiều xơ sợi.
Mùi vị: Cây Cảo bản có mùi thơm nồng đặc trưng, vị cay, đắng và hơi tê.
Sinh thái, phân bố
Đặc điểm sinh thái:
Cây Cảo bản thường sinh trưởng trong môi trường ẩm ướt và mát mẻ, chủ yếu ở các khu vực có độ cao trung bình đến cao. Cụ thể:
Độ cao sinh trưởng: Cây mọc ở vùng có độ cao từ 1000 – 2700m, phổ biến hơn trong khoảng 1250 – 2500m so với mực nước biển.
Môi trường sống:
- Dưới tán rừng (rừng thưa hoặc rừng rậm), nơi có bóng râm và độ ẩm cao.
- Bờ suối, khe suối, vùng đất ẩm ven sông.
- Thảo nguyên cao nguyên (các bãi cỏ ẩm ướt trên núi).
- Sườn núi đá có độ ẩm cao, đặc biệt là các vách đá râm mát.
- Rìa rừng (ranh giới giữa rừng và đồng cỏ), nơi có ánh sáng gián tiếp.
Đặc điểm phân bố:
Cảo bản là tên vị thuốc có nguồn gốc từ 2 loài Ligusticum sinensis Oliv. và L. jeholense L. thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Cả 2 loài này vốn mọc tự nhiên, sau được trồng ở Trung Quốc.
Ở Việt Nam, hiện còn phải nhập dược liệu cảo bản của Trung Quốc. Tại Trung Quốc, cây phân bố ở Hà Nam, Thiểm Tây, Cam Túc, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Sơn Đông, Vân Nam và những nơi khác.
Bộ phận dùng
Thân, rễ.
Thành phần hóa học
Rễ và thân chứa tinh dầu [Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, 1999: 96), levistolid A, xiongterpen, acid linoleic, sucrose, daucosterol, acid ferulic và B sitosterol Zhang B – Sunf M – Chang RL – Zang H, Zong Yao Cai, 2009, May, 32(5) 710 – 2 (Articl in China)
Độc tính cấp của tinh dầu cảo bản
Đã xác định độc tính cấp dùng uống cho chuột nhắt trắng, thấy tinh dầu cảo bản được chưng cất từ cây cảo bản tươi có liều chết trung bình là LD60 = 70,174 4,95 g/kg (Trung tây y kết hợp tạp chi, 1987, vol. 7, 12: 738: TDTH, 1997, III: 1628).
Tác dụng dược lý của cảo bản
Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương
- Cảo bản có khả năng ức chế hoạt động tự phát của chuột nhắt, giúp an thần, giảm lo lắng.
- Giảm tác dụng hưng phấn do amphetamine gây ra, giúp ổn định tinh thần.
- Kéo dài thời gian gây mê của thuốc ngủ thiopental natri, cho thấy khả năng hỗ trợ gây mê.
- Giảm phản ứng đau do tiêm chất gây co thắt (antimony potassium tartrate), cho thấy tác dụng giảm đau.
- Kéo dài thời gian chịu đau khi dùng nhiệt, cho thấy khả năng giảm đau.
- Giảm thân nhiệt ở thỏ bị sốt thực nghiệm và chuột nhắt bình thường, cho thấy tác dụng hạ sốt.
Tác dụng hạ huyết áp và giãn mạch
Nước sắc cảo bản hoặc cao chiết bằng ethanol của rễ và thân rễ cảo bản với liều tính theo dược liệu khô là 2 g/kg tiêm tĩnh mạch cho thỏ đã gây mê, thấy huyết áp hạ xuống. Với liều 2 g/kg tiêm tĩnh mạch không thấy có ảnh hưởng rõ trên mạch tại thỏ. Nhưng thí nghiệm trên tai thỏ cô lập, lại thấy hệ mạch tai thỏ giãn ra [Trung thảo dược. 1981, 12 (3): 17; TDTI, 1997, III: 1628]
Tác dụng kháng khuẩn
Nước sắc của thân rễ và rễ cảo bản khi thêm vào môi trường nuôi cấy, có tác dụng ức chế một số chủng vi khuẩn kiểm định [Trung hoa bị phu khoa tạp chí, 1958, 6(3): 210: TDTH, 1997. III: 1628)
Tác dụng hạ sốt
Cảo bản có tác dụng hạ sốt, làm ra mồ hôi, nên thường được dùng để điều trị cảm sốt, nhức đầu [Kee, 1999: 1961]
Tác dụng chống viêm, giảm đau
- Cảo bản có thể giúp giảm đau, chống viêm, đặc biệt hiệu quả trong việc giảm sưng viêm do dị ứng hoặc nhiễm trùng.
- Giúp giảm phù nề, sưng tấy do viêm, đặc biệt là viêm da và viêm khớp.
- Một số thành phần trong Cảo bản có thể ức chế quá trình hình thành chất gây viêm, giúp giảm đau và cải thiện triệu chứng viêm mà không ảnh hưởng đến hệ thống nội tiết.
Tinh dầu được cất từ toàn cây cảo bản tươi, cho chuột nhắt trắng uống với liều 7- 14 g/kg có tác dụng giảm đau, làm giảm số lần đau quặn bụng chuột khi tiêm vào phúc dung dịch acid acetic.
Ứng dụng điều trị viêm đa thần kinh
Ứng dụng lâm sàng của Cảo bản trong điều trị viêm da thần kinh.
Phương pháp điều trị: Dùng dung dịch tiêm Cảo bản 50% tiêm dưới da tại vùng tổn thương, mỗi tuần 2 lần, liều 5 – 10ml/lần. Nếu tổn thương nhiều hoặc lan rộng, có thể tiêm luân phiên hàng ngày để đảm bảo mỗi tổn thương được tiêm đủ 2 lần/tuần. Sau tiêm, buổi tối nên chườm ấm để tránh cứng da.
Hiệu quả điều trị: Trong số 139 bệnh nhân, tỷ lệ hiệu quả đạt 98.5%, gồm:
- 46 ca khỏi hoàn toàn (da trở lại bình thường, hết ngứa).
- 44 ca cải thiện rõ rệt (giảm trên 2/3 tổn thương, không còn ngứa).
- 47 ca có tiến triển (giảm một phần tổn thương, vẫn còn ngứa nhẹ).
- 2 ca không có hiệu quả. Một số bệnh nhân kết hợp 0.5% hydrocortisone.
Thời gian cải thiện: Sau 2 – 4 lần tiêm, triệu chứng ngứa giảm.
- Tổn thương nhỏ: 8 – 10 lần có thể khỏi.
- Tổn thương lớn: Có thể cần tới 20 lần.
Tác dụng phụ: Hầu hết an toàn, nhưng có một số ít bệnh nhân bị dị ứng nhẹ, mề đay, hoặc sưng đau tại chỗ tiêm, có thể xử lý theo triệu chứng. Nếu dị ứng nặng cần ngừng thuốc.
Tính vị, công năng
Rễ và thân rễ cảo bản vị cay, tính ấm, không độc, có công năng tán phong hàn, khu phong, táo thấp, chỉ thống. Tài liệu Trung Quốc cũng ghi: cảo bản vị cay hơi ngọt, tính ôn có công năng tán phong, khư hàn, chỉ thống.
Chỉ định và liều dùng
Chỉ định: Trừ phong, tán hàn, khử thấp, giảm đau; dùng cho cảm mạo phong hàn, đau đỉnh đầu, đau khớp do phong thấp.
Liều dùng: 3 – 9g/ngày.
Cảo bản có vị cay, tính ấm, tác dụng khu phong, tán hàn, đặc biệt hiệu quả với đau đầu do phong hàn, đau đỉnh đầu, đau nửa đầu, thường phối hợp với Xuyên khung, Bạch chỉ. Ngoài ra, giúp giảm đau do phong thấp, đau khớp, thường dùng cùng Thương truật, Khương hoạt.
Công dụng chữa bệnh của cảo bản
Thân rễ và rễ cảo bản được dùng chữa cảm mạo, thấp khớp, đau nhức đầu, đau nửa đầu, kinh nguyệt không đều. Ngày dùng 3 – 6g sắc nước uống.
Thân rễ hoặc cây cảo bản tươi nấu nước, gội đầu cho sạch gầu, hoặc sắc lấy nước để tắm và giặt quần áo khi trẻ em bị ghẻ lở, chốc đầu, mụn nhọt.
- Sách “Đạo tính bản thảo” ghi: cho cảo bản được các loại gió độc, cảm lạnh, lợi tiểu tiện, thông huyết, khỏi nhức đầu.
- Sách “Dụng dược pháp tương” ghi: cảo bản trừ phong thấp nhiễm vào các cơ quan cơ thể, các chứng cảm mạo.
- Sách “Chân châu nang” ghi: cảo bản chữa khỏi nhức đầu, đau màng óc, khí lạnh nhiễm cảm [Nguyễn Văn Quý, 2002: 123].
- Theo “Dược tài đông y”, cảo bản được dùng chữa nhức đầu do cảm lạnh (phong hàn đầu thống); thoát vị, sưng phù do hàn (hàn thấp sản hà); đau bụng, ta chảy. Ngày dùng 2 – 8g. Dùng ngoài chữa ghẻ, chốc lở: lấy lượng vừa đủ, nấu sôi, lấy nước rửa chỗ bị bệnh [Lê Quý Ngưu, 1999: 6 – 7]
Bài thuốc có cảo bản
Chữa lắc đầu
Cảo bản 6g, xuyên khung 3g, phòng phong 5g, bạch chỉ 3g, tế tân 3g, cam thảo 3g, nước 600 ml, Sắc còn 200 ml chia 3 lần uống sau khi ăn lúc thuốc còn nóng.
Chữa hàn tà, đau đầu, ức óc
Cảo bản, khương hoạt, tế tân, xuyên khung, mỗi vị 3g, thêm thông bạch (hành củ) 2 củ sắc uống.
Chữa đầu có nhiều gầu
Cảo bản, bạch chỉ, hai vị lượng bằng nhau, tán thành bột mịn. Tối hôm trước sát hỗn hợp bột vào đầu, sáng hôm sau gội đầu, có thể sắc, lấy nước gội đầu.
Các quan điểm y học về công dụng của Cảo bản
Cảo bản là một vị thuốc quan trọng trong Đông y, chủ yếu được dùng để trị đau đầu do phong hàn, nhưng ngoài ra còn có nhiều công dụng khác. Dưới đây là các quan điểm của những tài liệu y học cổ về công dụng của vị thuốc này:
Quan điểm của Trương Nguyên Tố:
- Cảo bản là vị thuốc chủ đạo của kinh Dương minh, có tác dụng tán phong hàn rất mạnh.
- Đặc biệt hiệu quả trong điều trị đau đầu vùng đỉnh đầu (đau ở phần cao nhất của đầu).
- Khi kết hợp với Mộc hương, có thể trị chứng cảm lạnh do sương mù và hơi ẩm xâm nhập vào phần trên của cơ thể.
- Khi kết hợp với Bạch chỉ, có thể dùng làm thuốc bôi mặt để trị chứng phong và ẩm gây bệnh ngoài da.
Theo sách Bản Thảo Hội Ngôn:
- Cảo bản giúp nâng cao dương khí, phát tán phong hàn, thông suốt từ đầu đến dạ dày.
- Do có tính cay, thơm, mạnh mẽ, vị thuốc này có thể loại bỏ tà khí ở thượng tiêu, đặc biệt là gió lạnh gây đau đầu, cảm lạnh ảnh hưởng đến răng.
- Đồng thời, nó có thể loại bỏ ẩm thấp ở hạ tiêu, trị các chứng đau bụng, đau vùng kín ở phụ nữ, bệnh lỵ kéo dài ở người già.
- Nếu cần trị chứng hàn thấp ở hạ tiêu, nên kết hợp với các vị thuốc có tác dụng hành khí đi xuống.
Theo Bản Kinh Phùng Nguyên:
- Ngày nay, người ta thường chỉ biết Cảo bản trị đau đầu vùng đỉnh, nhưng thực tế nó còn có thể chữa đau bụng kinh, lạnh bụng ở phụ nữ, do đều liên quan đến hàn thấp xâm nhập kinh Dương minh.
- Khi dùng để khử phong, trừ thấp, nó có thể trị cả bệnh bên trong và bên ngoài cơ thể, không chỉ riêng đau đầu do phong hàn.
Theo Bản Thảo Cầu Chân:
- Ngoài tác dụng trị đau đầu, Cảo bản còn chữa tiêu chảy do hàn phong, mụn trứng cá do phong nhiệt.
- Nó có công dụng tác động lên kinh Dương minh, giúp loại bỏ phong thấp gây ảnh hưởng đến da và tiêu hóa.
- So sánh với Xuyên khung (một vị thuốc cũng trị đau đầu), Cảo bản tác động lên kinh Thái dương và Đốc mạch, giúp thông suốt từ trên xuống dưới, nhưng không ảnh hưởng đến kinh Can và Đởm như Xuyên khung.
Theo Bản Thảo Chính Nghĩa:
- Cảo bản có vị cay, tính ấm, chủ yếu tác động lên kinh Thái dương và Thái âm, giúp phát tán phong hàn thấp.
- Có tác dụng thông suốt khí huyết bị ứ trệ, tương tự như Tế tân, Xuyên khung, Khương hoạt.
- Trị các chứng bệnh do hàn thấp gây co rút cơ, đau bụng kinh, đau bụng dưới.
- Tuy nhiên, không phù hợp cho người bị âm hư hỏa vượng hoặc có các chứng tắc nghẽn do nhiệt.
- Ngoài ra, còn có tác dụng trị chứng yếu chân tay, bước đi không vững do phong hàn thấp xâm nhập kinh lạc.
Một số loại Cảo bản khác được sử dụng làm thuốc
Ở một số địa phương ở Trung Quốc, Cảo bản có thể được lấy từ các loài thực vật khác cùng họ:
- Hoàng Cảo bản (云南黄藁本) – thuộc loài Ligusticum jeholense, mọc nhiều ở Vân Nam.
- Tân Cương Cảo bản (新疆藁本) – thuộc loài Ligusticum sinense, mọc ở vùng Tân Cương.
- Sơn Cảo bản (山藁本) – còn gọi là Thổ Cảo bản, thực chất là cây Trạch cần (Sium sisarum) hoặc Cốt duyên đương quy (Angelica tenuissima), mọc tại Giang Tô.
Nguồn tham khảo: https://www.zysj.com.cn/zhongyaocai/gaoben/index.html