Mô tả cây
-
Dây leo, sống phụ sinh. Thân mảnh, có nhựa mủ trắng, có rễ bám vào những cành cây to, vỏ màu trắng xám. Lá mọc đối, có phiến dày và dại, hình gần tròn, đầu hơi nhọn, đường kính 6 – 18 mm, không cuống hoặc có cuống rất ngắn.
-
Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành tán nhỏ; hoa màu đỏ; đài có răng nhỏ; tràng có ống hình cầu, hông có lông, cánh hoa dày, trắng phủ có 5 phiến đính ở gốc cột nhị nhuỵ, ngắn hình chóp, bao phấn có cánh và ô song song.
-
Quả thon, hình dài hơi cong, có múi nhọn; hạt dẹt có mao lông.
Phân bố, sinh thái
Dây đồng tiền phân bố ở vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á, bao gồm Ấn Độ, Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Papua New Guinea, Bắc Australia và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây chỉ thấy phân bố ở các tỉnh phía nam, ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và Tây Nguyên trở vào.
Dây đồng tiền là loại cây phụ sinh trên các cây gỗ ở rừng thưa, rừng thứ sinh hay cả biệt thưa ở vùng đồi. Cây ưa sáng, chịu nóng và khô hạn, ra hoa quả nhiều hằng năm, hạt có túm lông phát tán nhờ gió. Tuy nhiên, chỉ có những hạt nào rơi được vào các kẽ nứt của vỏ hay hốc cây chủ mới nảy mầm. Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng khéo sau khi bị cắt.
Bộ phận dùng
Toàn dây, thu hái quanh năm, dùng tươi.
Công dụng
-
Dây đồng tiền mới được dùng theo kinh nghiệm dân gian để chữa viêm tai giữa, thối tai, lấy lá đồng tiền lượng vừa đủ, giã nát, chắt lấy nước nhỏ vào tai, ngày 2 – 3 lần.
- Chữa rắn độc cắn: dây đồng tiền (40g), nắp ấm (3 quả), thạch hộc với (2 hành giả), thạch xương hổ (20g), cam thảo dây (20g), lá me (20g), lá non cây mua (40g), muối ăn (vài hạt). Tất cả giã nát hãm với 30 ml nước sôi, lọc bỏ bã. Người lớn uống làm 2 lần cách nhau 30 phút. Trẻ em dưới 15 tuổi uống làm 4 lần. Nếu người bệnh không uống được, dùng ống cao su đưa thuốc vào dạ dày.
- Theo tài liệu nước ngoài, ở Indonesia, dây đồng tiền được dùng để giảm đau đối với phỏng vết thương do gai cá độc gây nên. Nhựa và lá dây đồng tiền dùng để chữa bệnh sprue cho trẻ em.
(Nguồn: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam)