Mục lục
Mô tả
Cây khúc nếp là loài thảo mộc hàng năm với các đặc điểm hình thái như sau:
1. Thân cây
- Thân thẳng đứng, hoặc có nhánh từ gốc mọc hơi chếch lên.
- Chiều cao 10-40cm hoặc hơn, gốc thân có đường kính khoảng 3mm.
- Phần trên thân không phân nhánh, có rãnh dọc và phủ một lớp lông trắng dày như bông.
- Đốt thân dài 8-20mm, phần trên đôi khi có thể đạt 5cm.
2. Lá
Không có cuống, hình thìa ngược hoặc thuôn ngược dạng trứng.
Kích thước:
- Lá ở phần gốc: 5-7cm dài, 11-14mm rộng.
- Lá ở phần trên: 15-20mm dài, 2-5mm rộng.
- Gốc lá thu hẹp dần và hơi kéo xuống, đầu lá tròn có gai nhọn nhỏ.
Cả hai mặt lá phủ lông trắng, nhưng mặt trên có lớp lông mỏng hơn.
Gân lá một đường chính, ít rõ ràng ở mặt dưới.
3. Hoa
Cụm hoa: gồm nhiều hoặc ít hoa đầu, đường kính 2-3mm, gần như không có cuống, mọc dày đặc trên đỉnh cành tạo thành cụm tán hoa.
Màu hoa: vàng đến vàng nhạt.
Tổng bao:
- Hình chuông, đường kính 2-3mm.
- 2-3 lớp lá bắc, màu vàng kim hoặc vàng chanh, mỏng, sáng bóng.
- Lớp ngoài trứng ngược hoặc thìa ngược, có lông bông ở gốc, dài khoảng 2mm.
- Lớp trong hình thìa dài, không có lông, đầu tù, dài khoảng 2.5-3mm.
Đế hoa: Hơi lõm ở trung tâm, không có lông.
4. Hoa cái & Hoa lưỡng tính
Hoa cái:
- Nhiều, hình ống nhỏ, dài khoảng 2mm.
- Đầu hình phễu, có 3 răng nhỏ, không có lông.
Hoa lưỡng tính:
- Ít hơn, hình ống, dài khoảng 3mm.
- Phình dần về phía trên, phần trên có 5 thùy nông hình tam giác nhọn, không có lông.
5. Quả & Hạt
Quả bế:
- Hình trứng ngược hoặc hình trụ ngược, dài khoảng 0.5mm.
- Bề mặt lồi dạng hạt nhỏ.
Mào lông:
- Thô, màu trắng bẩn, dễ rụng.
- Dài khoảng 1.5mm, gốc liên kết thành hai bó.
6. Thời kỳ ra hoa
- Hai đợt ra hoa chính: Tháng 1-4 và tháng 8-11.
Phân bố, sinh thái
Các loài thuộc chi Gnaphalium L. đều là cây thảo phân bố rải rác khắp thế giới; tập trung nhiều nhât ở vùng ôn đới ấm và cận nhiệt đới. Ở Ấn Độ có 9 loài; Trung Quốc có hơn 10 loài và Việt Nam 5 loài. Loài rau khúc nếp phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Mianma, Nhật Bản…
Ở Việt Nam, rau khúc nếp phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía bắc từ Hà Tĩnh trở ra, tập trung nhiều nhất ở các tỉnh đồng bằng và trung du như Ninh Bình, Hà Nam, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Bắc Giang, Cao Bằng…
Cây thường mọc lẫn trong ruộng trồng hoa màu vụ đông xuân, hay trên ruộng cao sau khi đã gặt lúa vụ mùa. Rau khúc nếp còn thấy, ở các bãi sông, ruộng vùng núi sau khi đã cạn nước… Cây ưa sáng và khí hậu ẩm mát, thường gặp trong thời kỳ có nền nhiệt độ thấp nhất trong năm. Cây ra hoa quả nhiều; sau khi quả già, toàn cây tàn lụi vào mùa hè – thu, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.
Cách trồng
Ngoài việc khai thác hoang dại, rau khúc nếp còn được trồng để chủ động nguyên liệu, nhất là trong tình hình thâm canh hiện nấy không còn ruộng một vụ, ruộng trồng màu cũng luôn được xới xáo, làm cỏ, nơi mọc hoang ưa thích của rau khúc nếp bị thu hẹp.
Rau khúc nếp được gieo trồng bằng hạt. Hạt có sức sống khỏe, khi rụng xuống đất một năm sau vẫn nảy mầm. Thời vụ gieo vào cuối đông hay đầu xuân. Đất gieo tốt nhất là đất trồng rau, màu, được cày bừa, lên luống hoặc để nguyên cả ruộng rồi gieo vãi hạt. Cây không cần chăm sóc nhiều, chỉ tưới khi quá khô hạn.
Nếu có điều kiện, nên dùng nước phân, nưóc giải hoặc đạm pha loãng tưới thúc 3-4 lần, mỗi tuần tưới một lần. Sau 1-1,5 tháng, thu lá non làm bánh. Để làm thuốc, có thể hái cả lá già, lá bánh tẻ (thường ngắt cả ngọn), dùng tươi hoặc phơi khô.
Bộ phận dùng
Toàn cây, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi, khô.
Thành phần hóa học
Toàn cây rau khúc nếp chứa flavonoid 5% , tinh dầu 0,05%,
Alcaloid vết , sterol vết chất không xà phòng hóa 0,58%, các vitamin B, C , caroten , chất diệp lục , chất nhựa , dầu béo .Ngoài ra , còn có lutcoloin -4’- β –D – glucosid , stigmasterol , gnaphalin , 2’, 4, 4’- trihydroxy – 6’-methoxychalcon -4’ – β – D – glucosid , stigmasterol, gnaphalin , 2, 4, 4’- trihydroxy-6’ – methoxychalcon – 4’ – β – D – glucopyranosid ( Trung dược từ hải III, 1218; Võ Văn Chi,1997 )
Theo Tachibana Kenji và cs, 1995, rau khúc nếp chứa scopoletin : 4, 2’, 4’ – trihydroxy – 6 ‘ – methoxy chalcon -4’ – O – β – glucosid, quercetin và luteolin ( CA124 :106.185h) .Các chất nói trên đều có tác dụng ức chế ngưng tiểu cầu .
Tác dụng dược lý
- Tác dụng giảm ho: Nước sắc rau khúc nếp liều tính ra dược liệu khô là 4g/kg cho chuột nhắt trắng có tác dụng giảm ho.
- Tác dụng kháng khuẩn: Dùng phương pháp đục lỗ trên môi trường thạch, nước sắc 1: 1 (1g rau khúc nếp khô sắc rồi cô còn 1 ml dịch) có tác dụng ức chế Staphyỉococcus aureus và trực khuẩn lỵ Shigella.
Tính vị, công năng
Rau khúc nếp có vị ngọt, hơi đắng, tính bình, vào kinh phế, tỳ, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, thư phế, tiêu đờm, chi khái, khu phong hàn, điều kinh và hạ huyết áp.
Công dụng
Công dụng chữa bệnh
Về công dụng làm thuốc, rau khúc nếp chữa cảm sốt, ho, viêm họng, viêm khí quản mạn tính, hen suyễn có đờm, phong thấp tê đau, huyết áp cao.
Liều dùng: 15 – 30g, sắc uống hoặc hãm uống. Có thể thái nhỏ, trộn với ít đường, hấp cơm uống.
Dùng ngoài, lá tươi rửa sạch, giã nát, đắp chữa chấn thương bầm giập, vết chém hoặc rắn cắn.
Bài thuốc có rau khúc nếp
Các bài thuốc từ rau khúc nếp
1. Trị cảm lạnh, ho, sốt
Bài thuốc 1:Dùng 20g rau khúc nếp khô (hoặc 40g tươi), kết hợp với 9g tía tô, 9g kinh giới, sắc nước uống trong ngày giúp giải cảm, giảm ho và hạ sốt.
Bài thuốc 2: Rau khúc nếp khô 30g, gừng, hành, mỗi vị 10g, sắc uống.
2. Chữa hen suyễn, viêm họng
Lấy 30g rau khúc nếp khô, thêm 6g ma hoàng, 9g khoản đông hoa, 9g hạnh nhân, 9g bạch tiền, sắc uống giúp làm dịu cổ họng, giảm viêm và hỗ trợ điều trị hen suyễn.
3. Chữa viêm khí, phế quản mạn tính, hen suyễn có đờm:
Rau khúc nếp 15g, khoản đông hoa hoặc tỳ bà diệp 15g, hạt mơ 10g. Tất cả sắc uống.
3. Giảm ho, tiêu đờm
Dùng 30g rau khúc nếp khô, kết hợp với 15g đường phèn, sắc lấy nước uống trong ngày giúp long đờm, giảm ho hiệu quả.
4. Chữa viêm khí quản mạn tính
Lấy 60g rau khúc nếp khô, sắc nước đặc, chia thành 3 phần uống trong ngày. Dùng liên tục 10 ngày để đạt hiệu quả tốt trong điều trị viêm khí quản mạn tính.
5. Giảm đau nhức, tổn thương do té ngã, phong thấp
Dùng 120g rau khúc nếp tươi, sắc lấy nước uống trong ngày giúp giảm đau do chấn thương, hỗ trợ điều trị phong thấp và đau nhức xương khớp.
6. Hỗ trợ hạ huyết áp
Lấy 12g rau khúc nếp khô, kết hợp với 9g câu đằng, 9g tang ký sinh, sắc nước uống trong ngày giúp điều hòa huyết áp.
7. Chữa ngộ độc đậu tằm
Bài thuốc 1: Sử dụng 60g rau khúc nếp khô, kết hợp với 30g xa tiền thảo, 30g phượng vĩ thảo, 15g nhân trần, sắc nước uống thay trà giúp giải độc hiệu quả.
Bài thuốc 2: Rau khúc nếp 60g, mã đề 30g, cỏ gà 30g, ngải cứu 30g, đường trắng. Sắc tất cả các nguyên liệu với 1200ml nước, cô đặc lại còn 800ml. Thêm đường trắng cho vừa uống. Uống thay trà.
8. Hỗ trợ điều trị khí hư, bạch đới
Lấy 15g rau khúc nếp, 15g phượng vĩ thảo, 15g đăng tâm thảo, 8g cỏ xước, sắc nước uống trong ngày giúp hỗ trợ điều trị khí hư, bạch đới. Không dùng trong thời gian hành kinh.
9. Chữa đầy bụng, tiêu chảy
Dùng 60g rau khúc nếp khô, kết hợp với một cái màng mề gà (kê nội kim), sắc nước uống trong ngày giúp hỗ trợ tiêu hóa, giảm đầy hơi, tiêu chảy.
10. Chữa vết thương sưng tấy, lâu lành
Lấy 30g rau khúc nếp khô (hoặc 60g tươi), sắc nước uống giúp hỗ trợ liền vết thương. Dùng ngoài: Giã nát lá rau khúc nếp tươi, đắp trực tiếp lên vùng tổn thương giúp giảm sưng viêm.
11. Giảm đau do thống phong
Lá và cành non rau khúc nếp sau khi rửa sạch, giã nát rồi đắp lên vùng sưng đau, băng cố định lại giúp giảm đau nhức do thống phong.
12. Trị mụn nhọt, viêm da
Lấy lá rau khúc nếp tươi giã nát, trộn với cơm nguội và một chút muối, đắp lên vùng da bị viêm, mụn nhọt sưng đỏ giúp giảm viêm và nhanh lành.
Công dụng làm thực phẩm
Rau khúc là một loại rau dại quen thuộc ở Việt Nam, không chỉ được biết đến với công dụng chữa bệnh mà còn là một nguyên liệu phổ biến trong ẩm thực. Rau khúc có vị ngọt, tính bình, thường được dùng để chế biến các món ăn dân dã, thơm ngon.
Đặc biệt, món bánh khúc là một món ăn truyền thống nổi tiếng, được làm từ bột nếp và rau khúc, mang hương vị đặc trưng, hấp dẫn. Ngoài ra, rau khúc còn có thể được dùng để nấu canh, xào hoặc làm các món ăn khác, mang lại hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng cho bữa ăn.
Rau khúc không chỉ phổ biến trong ẩm thực Việt Nam mà còn được sử dụng rộng rãi trong các món ăn truyền thống của Trung Quốc, đặc biệt là vào dịp Thanh Minh. Ở các vùng phía Nam Trung Quốc, người dân thường hái cành non và lá non của rau khúc để chế biến thực phẩm theo nhiều cách khác nhau.
Vào dịp Thanh Minh, rau khúc được xem là một loại rau mùa lễ hội và được gọi với cái tên “Thanh Minh Thái”. Lá non có thể được luộc sơ qua nước sôi rồi đem xào hoặc kết hợp với bột gạo, bột ngô để làm thành các món ăn dân dã. Nhờ hương thơm đặc trưng và vị thanh mát, rau khúc trở thành một nguyên liệu không thể thiếu trong nhiều món ăn truyền thống.
Ở một số địa phương như Chiết Giang (Lệ Thủy, Thai Châu), rau khúc là thành phần quan trọng trong món bánh Thanh Minh đoàn tử – một loại bánh được làm từ bột nếp và nhân ngọt hoặc mặn, mang hương vị thơm ngon, hấp dẫn. Trong khi đó, tại Hồ Bắc, rau khúc được chế biến thành món bánh mềm “Nhuyễn Hưu Ba”– một đặc sản trong lễ hội Hoa Triều.
Không chỉ góp phần tạo nên những món ăn mang đậm bản sắc văn hóa, rau khúc còn được ưa chuộng nhờ mùi thơm dễ chịu và giá trị dinh dưỡng cao, giúp bữa ăn thêm phong phú và hấp dẫn.