Mục lục
Mô tả cây rau xương cá
Cây xương cá là một loại cây thân thảo có thể sống hai năm hoặc lâu hơn, với đặc điểm:
Rễ: Có nhiều rễ chùm nhỏ.
Thân: Dài khoảng 20 – 25cm, mọc vươn lên và phân nhiều nhánh. Phần thân phía trên có lông tuyến, bén rễ ở các đốt.
Lá: Mọc đối, dài 2.5-5.5 cm, rộng 1-3 cm. Đầu lá nhọn, gốc lá hơi có hình tim, mép lá đôi khi có lông. Lá ở phần trên của cây thường không có cuống hoặc có cuống rất ngắn.
Hoa: Cây có hoa mọc thành cụm ở ngọn thân. Hoa có cánh màu trắng, mỗi cánh bị xẻ thành hai phần sâu đến sát gốc. Đài hoa hình trứng, bên ngoài có lông tuyến.
Quả: Hình trứng, chứa hạt có màu nâu, hơi dẹt và có các nốt sần nhỏ.
Mùa ra quả: Từ tháng 3 đến tháng 5.
Phân bố, sinh thái
Rau xương cá phân bố chủ yếu ở khu vực có khí hậu mát thuộc vùng cận nhiệt đới châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào và ở vùng núi cao Thái Lan. Ở Việt Nam, cây phân bố tập trung nhiều ở các tỉnh miền núi phía bắc, ở độ cao từ 600 đến 1600m, như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An (Kỳ Sơn)… Rau xương cá là cây ưa ẩm, chịu bóng và có thể hơi ưa sáng, thường mọc thành đám đày ở các ruộng ngô, nương rẫy, ven rừng và ven đường đi.
Cây mọc từ hạt vào khoảng tháng 3 -4; sinh trưởng nhanh trong vụ xuân – hè; sau khi có hoa quả, cây bắt đầu vàng úa và tàn lụi. Hạt của rau xương cá tồn tại được 6-7 tháng trên mặt đất, chịu được nhiệt độ thấp về mùa đông và sẽ nảy mầm vào mùa xuân năm sau. Rau xương cá được coi là loài cỏ dại đối với cây trồng. Tuy nhiên ở những nơi trống, cây lại có dụng phủ đất, tránh xói mòn. Bộ phận dùng phần trên mặt đất, thu hái quanh năm.
Thành phần hóa học
Rau xương cá chứa nước 89,7%, protein 3,3%. glucid 1,4%, chất xơ 3,7%, tro 1,9%, Ca 80 mg%, p 1,2 mg%, caroten 9,2 mg% và vitamin c 48 mg% (Võ Văn Chi, 1997).
Tính vị, công năng
Rau xương cá có vị nhạt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng.
Công dụng
Rau xương cá đôi khi được dùng nấu canh ăn. Theo kinh nghiệm dân gian, rau xương cá được dùng trong những trường hợp sau:
- Chữa mụn nhọt: Rau xương cá tươi (60g) giã nát thêm rượu vừa đủ, sắc nước uống, đồng thời dùng cây tươi giã nát đắp ngoài.
- Chữa kiết lỵ: Rau xương cá tươi (30g), sắc nước thêm ít đường kính uống.
- Chữa trĩ: Rau xương cá tươi (90 – 120g), sắc thành nước đặc, thêm ít muối, dùng nước sắc rửa và xông. Lá sắc uống là thuốc lợi sữa. Ở Trung Quốc rau xương cá dược dùng chữa viêm phổi, cao huyết áp kinh nguyệt không đều, liều dùng: 15 – 30 g dưới dạng nước sắc. Dùng ngoài, rau xương cá với lượng vừa đả giã nát đắp, hoặc dùng nước sắc rửa và xông.
Rau xương cá (15g), nấu với đậu phụ thành thức ăn – vị thuốc chữa cao huyết áp. Rau xương cá non xào ăn trong thời gian dài có thể chữa tóc bạc sớm.
Bài thuốc có rau xương cá
- Chữa viêm nội mạc tử cung, viêm cổ tử cung, viêm phần phụ: Rau xương cá 60g, đào nhân 6g, mẫu đơn bì 9g. Sắc nước uống làm 2 lần trong ngày.
- Chữa hạch bạch huyết cổ sưng đau: Rau xương cá 30g, côn bố 30g, đường kính vừa đủ. Sắc nước uống.
Nguồn: Cây thuốc và động vậy làm thuốc ở Việt Nam .