Cải bắp

Tên tiếng Việt: Cải bắp, Xú pao (Tày)

Tên khoa học: Brassica oleracea L. var. capitata L.

Họ: Brassicaceae

Công dụng: Chữa loét dạ dày. Thuốc lợi tiểu; còn chữa viêm họng, khản tiếng, uống chữa ho, viêm sưng phổi, chống hoại huyết, lỵ (Lá nấu nước uống). Lá đắp ngoài làm liền vết thương, mụn nhọt.

Cải bắp 1

A. Mô tả cây

  • Cây cải bắp có lá áp sát vào nhau tạo thành một bắp sít chặt ở ngọn thân cây thành hình đầu với đường kính 25-30cm trước khi nở hoa.
  • Hoa thành chùm có phân nhánh. Lá đài dựng đứng, nhị gần bằng nhau. Quả loại cải, hẹp và dài, trên có một mỏ hình nón, mảnh vỏ nồi có 1-3 gân. Hạt nâu, nhẵn, xếp thành một dãy.
  • Lá mầm hình thận, có hai thùy, gập đôi.

B. Phân bố, thu hái và chế biến

  • Cải bắp được trồng ở khắp nước ta chủ yếu để lấy lá làm rau vào mùa đông. Năm 1948 người ta phát hiện trong bắp cải tươi có một chất chống loét (antipeptic ulcer diatary) còn gọi là Vitamin U có khả năng chữa lành khá mau chóng các ổ loét nhân tạo được trong bộ máy tiêu hóa của chim, chuột bạch, do đó cải bắp được dùng làm thuốc chữa loét, viêm dạ dày và ruột.
  • Dùng làm rau hay làm thuốc đều dưới dạng lá tươi, do đó chủ yếu thu hoạch vào mùa đông, hay ở những vùng khí hậu lạnh.

C. Thành phần hóa học

  • Trong cải bắp có 90% nước, 1,8% protit, 5,4% gluxit, 1,6% xenluloza, 1,2% tro. Hàm lượng muối khoáng gồm 48mg% canxi, 31mg% P, 1,1mgFe. Không thấy có caroten nhưng có 30mg% vitamin C, 0,04mg% vitamin PP, 0,06mg% vitamin B1, 0,05mg% vitamin B2. Như trên đã nói, năm 1948, Cheney đã phát hiện trong cải bắp cho chất chống loét hay vitamin U là một muối của metyl methionin sunfonium:
  • Một số nước Âu Mỹ và Trung Quốc đã tổng hợp muối metyl methionin sunfonium (ví dụ Trung Quốc chế chất metyl methionin sunfonium iodua) những cũng gọi là vitamin U. Tuy nhiên theo Mirakami (1956) thì những chất tổng hợp chưa hẳn đã giống chất vitamin U thực có trong nước bắp cải và nước một số rau quả như xà lách, rau muống, su hào (Brassica oleracea L. var.caulorapa) cải, chuối…Hàm lượng vitamin U thay đổi tùy theo loại rau, cách trồng trọt, thu hái và bảo quản.
  • Vitamin U không bền vững, dễ oxy hóa, bị hủy ở nhiệt độ cao, tan trong nước, chịu được lạnh và có thể sấy khô.

D. Tác dụng dược lý

  • Nước ép rau tươi (xà lách, rau muống, su hào, cải bắp, chuối…) có tác dụng giúp đỡ, kích thích khá mạnh sự tái tạo của tế bào ổ loét và do đó làm lành được các ổ loét đó.
  • Năm 1958, Viện quân y 108 (Hà Nội) có làm một số thực nghiệm chứng minh rằng nước ép hoa quả, nước ngũ cốc có tác dụng làm giảm và điều hòa sự co bóp của dạ dày.
  • Trên những cơ sở nghiên cứu ấy, hiện nay tại nhiều nước trên thế giới đang áp dụng nước ép cải bắp dưới nhiều hình thức để điều trị các bệnh loét dạ dày, tá tràng, viêm dạ dầy, ruột, đau đường mật, viêm đại tràng…thu được kết quả tốt.

E. Công dụng và liều dùng

Sau đây là cách dùng nước ép cải bắp có thể áp dụng ở mỗi gia đình:

  • Cải bắp bóc thành từng lá (không bỏ lá xanh), rửa nhiều lần nước cho sạch, dọc đôi từng lá theo sống lá. Chần trong nước sôi. Vớt ra để ráo nước. Dùng bàn ép ép lấy nước. Bỏ bã đi. 1kg cải bắp tươi ép như vậy cho từ 500-700ml nước ép có màu vàng xanh, thơ, vị ngọt, hơi hăng hắc. Ở những nơi không có bàn ép, thì sau khi chần rau xong, cho vào cối sạch, dã nát rồi lấy vải màn hoặc lấy dạc sạch lọc lấy nước. Làm theo cách này, 1kg bắp cải cho từ 350-500ml.
  • Nước ép thu được nếu không có điều kiện bảo quản (tủ lạnh) rất chóng thiu, vì trong nước bắp cải có hợp chất sulfua. Liều dụng điều trị trong ngày trung bình 1000ml chia làm nhiều lần uống mỗi lần 200-250ml, uống thay nước. Có thể pha thêm đường, muối, uống nóng hoặc uống lạnh tùy theo khẩu vị. Mỗi đợt điều trị là 2 tháng kèm theo chế độ dinh dưỡng vào lao động thích hợp. Có những trường hợp loét tá tràng 14-20 năm cũng chữa được lành. Nhưng đối với ổ loét quá sâu thì tác dụng ít.
  • Điều trị bằng nước ép cải bắp không có biến chứng gì và có thể kết hợp với các thuốc chữa bệnh đau dạ dày và tá tràng khác.

Ý kiến của bạn