TRA CỨU DƯỢC LIỆU

Sâm Đại Hành

Sâm Đại Hành Tên tiếng việt: Sâm đại hành, Tỏi lào, Tỏi đỏ, Hành đỏ, Sâm cau, Phong nhan, Hom búa lượt (Thái) Tên khoa học: Eleuthrine bulbosa (Mill.) Urban. - Sisyrinchium bulbosum Mill. Họ: Iridaceae Công dụng: Cầm máu, viêm họng, chốc lở, bệnh vàng da (Thân hành). Còn dùng làm thuốc bổ máu.
Mô tả chi tiết

Tên khoa học : Eleutherine subaphylla Gagnep.

Tên đồng nghĩa: Eleutherine bulbosa (Mill.) Urban, E. longifolia Gagnep.

Tên khác: Tỏi lào, hành đỏ, tỏi đỏ, sâm cau, phong nhan, hom búa lượt (Thái).

Họ: Lay ơn (Iridaceae).

1. Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm, cao đến 30 cm hay hơn. Thân hành hình trứng thuôn, dài khoảng 5 cm, (lường kính 2,5 - 3 cm gồm nhiều vảy mỏng, màu đỏ nâu. Lá hình dải nhọn, có gân song song, trông giống lá cau hay lá dừa.

Cụm hoa mọc từ thân hành thành chùm dài 20 cm; lá bắc dạng lá; hoa màu trắng, có cuống dài; lá đài 3, thuôn hẹp, mỏng; cánh hoa 3, hơi hẹp hơn lá dài; nhị 3, mọc đứng, bao phấn màu vàng; bầu hình trứng ngược, có 3 ô. Quả ít gặp. Mùa hoa : tháng 4 - 6.

2. Phân bố, sinh thái

Sâm đại hành có nguồn gốc ở châu Mỹ, hiện được trồng ở vùng nhiệt đới châu Á, bao gồm Indonesia, Philippin và một số nước khác trong vùng Đông - Nam Á, trong đó có Việt Nam (Sel. Med. Pl. VO.I, 1999, 316). Cũng có những tài liệu cho rằng, sâm đại hành là loài đặc hữu Đông Dương, vừa thấy mọc hoang lại vừa được trồng ở Việt Nam (Võ Văn Chi, 1996; Đỗ Tất Lợi, 1971). Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra dược liệu ở khắp Việt Nam, từ 1961 đến nay, Viện Dược liệu chưa phát hiện và thu được mẫu của loài này trong trạng thái hoang dại.

Sâm đại hành là cây ưa ẩm và ưa sáng. Tuy nhiên, trong một giới hạn nào đó, cây trồng xen ở vườn cây ăn quả vẫn sinh trưởng phát triển được, nhưng về số lượng nhánh (hành con) trong khóm cũng như mức độ ra hoa thấp hơn những cây trổng ở nơi được chiếu sáng đầy đủ. Sâm đại hành thích nghi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Cây trồng ở vùng núi cao trên 1500m nhiệt độ trung bình dưới 15°c, sinh trưởng phát triển kém hơn ở vùng đồng bằng và trung đu.

Sâm đại hành ra hoa nhiều hàng năm, nhưng dường như không thấy đậu quả. Quan sát những nơi trồng sâm đại hành lâu năm, chúng tôi chưa phát hiện thấy cây con mọc từ hạt. Điều này chứng tỏ nguồn gốc của cây sâm đại hành có lẽ không phải ở Việt Nam. Hình thức tái sinh và phát triển chủ yếu của cây là việc đẻ nhánh con (hành con). Sâm đại hành có hiện tượng bán tàn lụi vào mùa đông, sinh trưởng phát triển mạnh trong mùa mưa ẩm. Toàn bộ phần thân hành giữ được sức sống lâu sau khi đào lên khỏi mặt đất.

3. Cách trồng

Sâm đại hành ưa khí hậu nóng ẩm, trồng  thích hợp ở trung du và đồng bằng. Cây được nhân giống bằng thân hành. Dùng thân hành của cây vụ trước đào lên, tách từng nhánh cắt bỏ lá và rẽ chỉ giữ nguyên đế củ đem trồng ngay (không phải dào lên bảo quản như hành). Mỗi hecta cần trổng 450 - 500 kg thân hành giống. Thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 11-12. Cũng có thể trồng vào tháng 2 - 3 nhưng năng suất thấp hơn.

Trồng sâm đại hành cần chọn đất tốt, tơi xốp, thoát nước. Sau khi cày ải, bừa hoặc đập nhỏ, vơ sạch cỏ, tiến hành rạch luống rộng 1 m, rải phân lót đểu lên mặt rồi hót rãnh lấy đất phủ lên. Thông thường, luống hót cao 20 - 25 cm, rãnh rộng 25 - 30 cm. Nếu ruộng thoát nước kém, có thể lên luống cao hơn. Phân bón lót 1 ha trung bình cần 15 - 20 tấn phàn chuồng, 100 -150 kg lân, 50 - 75 kg kali. Nếu có tro bón thêm càng tốt. Sau khi lên luống, dùng cào san phảng mặt, rạch thành hàng dọc hoặc ngang mặt luống, cách nhau 20 - 30 cm. Thân hành giống đặt chéo nanh sấu với khoảng cách trong rạch 10 - 30 cm, tùy theo đất xấu hay tốt. Đặt xong dùng đất phủ nhẹ. Có thể dùng tay vùi thân hành sâu độ 2 cm mà không cần rạch hàng. Trồng xong tưới nước giữ ẩm cho đến khi cây mọc.

Trong quá trình nảy mầm, một số thân hành có thể bị thối, vì vậy, cần dự trữ một ít giống để giặm. Khi cây non được 2 - 3 lá, thấy chỗ nào không mọc, cần giặm ngay dể đảm bảo cây lỗn đổu. Thời kỳ đầu, cần giữ cho ruộng luôn đủ ẩm. Có thể tưới bằng cách cho nước ngập rãnh, ngâm qua đêm rồi tháo kiệt, nhưng cần chú ý xới xáo để tránh dóng váng. Về sau, khi trời quá khô hanh mói cẩn tưới, nhưng phải tháo nước kịp thời nếu mưa to. Sâm đại hành cần bón thúc 2-3 lần, mỗi lần 50 - 60 kg/ha sulfat amoni. Tốt nhất  pha đạm với nước tưới cho cây. Nếu có điều kiện, có thể dùng phân chuồng hoai mục, phân nước, nước giải pha loãng. Mồi lần bón thúc nên kết hợp làm cỏ, vun xới nhẹ. Cây ít bị sâu bệnh.

Sâm đại hành trồng được một năm, đến mùa đông cây tàn lụi thì thu hoạch. Cũng có thể để 2 năm, nhưng phải chờ đến mùa đông khi cây ngừng sinh trưởng. Không thu khi cây bắt đầu mọc mầm mới. Khi thu hoạch, chọn ngày nắng ráo, đất khô, cuốc từng khóm hoặc cày lật, rũ sạch đất. Có thể phơi dược liệu ngoài ruộng 1-2 ngày cho khô đất để dễ rũ. Tỷ lệ tươi - khô khoảng 5/1. Mỗi hecta trung bình đạt 1,5-2 tấn dược liệu khô.

4. Bộ phận dùng

Thân hành thu hái ở cây đã trồng được 1 năm trở lên, vào lúc thân lá đã tàn úa. Nếu chưa dùng ngay, tách ra từng nhánh, rũ sạch đất, để nguyên cả rổ và lớp vỏ khô ở ngoài, cắt bỏ phần thân lá, để trong cát ẩm hay chỗ mát cho củ lâu khô. Với cách này, có thể bảo quản dược liệu dược vài tháng. Khi dùng, rửa sạch thân rẽ, thái mỏng phơi khô, để nguyên miếng hoặc tán bột.

Chú ý : Phải thái dọc, tránh vụn nát.

5. Thành phần hóa học :

Sâm đại hành đã được Viện Dược  Liệu nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ trước . Năm 1973, Lê Hồng và cs đã phân lập 4 chất từ dược liệu này . Vài năm sau , Nguyễn Văn Đàn và cs nhận dạng được 3 chất là eleutherin, isoeleutherin và eleutherol 

6. Tác dụng dược lý

Dịch chiết toàn phần củ sâm đại hành có tác dụng ức chế rõ rệt in vitro đối với phế cầu khuẩn, liên cầu tan máu, lụ cầu vàng, tác dụng yếu với Shigella ỷlexneri, s. dysenteriae, Bacillus anthracis, R. mycoides, có tác dụng chống viêm cấp tính và mạn tính; không gây biểu hiện độc tính; không ảnh hưởng đến thành phần máu và chức phận gan, thận, trong thử nghiệm độc tính bán cấp.

Cao cồn 70° của sâm đại hành ức chế rõ rệt sự phát triển của trực khuẩn lao, nồng độ ức chế tối thiểu là 1/50 dối với chủng cường độc H37 RV được nuôi cấy trong môi trường lỏng Sauton. Sâm đại hành, cho thỏ uống 2g/ngày trong 3 tuần không ảnh hưởng đến số lượng cũng như khả năng thực bào của các đại thực bào phế nang phổi thỏ được nuôi cấy trong môi trường có tụ cầu vàng. Một hoạt chất khác, ngoài eleutherin, isoeleutherin và eleuiherol được chiết xuất từ sâm đại hành có tác dụng kháng trực khuẩn lao chủng cường độc H37RV ở nồng độ ức chế tối thiểu là 10 ug/ml, trong khi cao sâm đại hành sấy khô có nồng độ này là 40 ug/ml.

Sâm đại hành có tác dụng làm tăng hồng cầu và huyết sắc tố chuột cống trắng được gây mô hình thiếu máu bằng acetat chì. Có tác dụng an thần, làm giảm hoạt động tự nhiên của chuột nhắt trắng, làm giảm sự khéo léo, nhanh nhẹn của chuột nhắt trắng trong thí nghiệm chuột leo ống và có tác dụng kéo dài thời gian giấc ngủ gây bởi thuốc ngủ evipan, đồng thời có tác dụng ức chế sự hưng phấn gây bởi cafein và co giật gây bởi strychnin.

Các hợp chất : eleutherin, isoeleutherin, eleutherol, isoeleutherol là những thành phần trong sâm đại hành có hoạt tính kháng khuẩn và làm tăng lưu lượng tuần hoàn ở tim cô lập chuột lang. Thuốc viên và mỡ từ cao khô sâm đại hành dùng điều trị cho 20 bệnh nhi (8 ca nhọt, 4 ca chốc, 4 chốc chàm hóa, 2 chàm tiếp xúc, 1 viêm da mủ, 1 chàm vi khuẩn), đã chữa khỏi 80%. Làm kháng sinh đồ thấy 7/9 trường hợp có tụ cầu vàng hoặc liên cầu týp B, hầu hết vi khuẩn kháng với tất cả các kháng sinh. Thuốc không gây tác dụng không mong muốn.

Cao dán Đại Na gồm sâm đại hành và núc nác đã được áp dụng điều trị eczema, bằng lấy que sạch phết thuốc lên giấy thấm nưóe và dán lên thương tổn. Dạng cao này sạch, không làm bẩn quần áo, không cần băng. Đối với bệnh nhân chàm đã sạch mủ, thuốc có tác dụng tốt, làm dịu thương tổn. Ở bệnh nhân chàm mà thương tổn chưa hết nhiễm khuẩn, cao Đại Na có thể làm phát sinh các mụn mủ nhỏ trên bề mặt thương tổn. Thuốc chưa ngăn ngừa được các đợt tái phát. Thuốc không độc. Viên sâm đại hành dùng uống và cồn, mỡ sâm đại hành bôi ngoài, đã được điều trị cho 31 trường hợp bị bệnh tổ đỉa gồm có 9 bệnh nhân tổ đỉa thể dơn thuần và 22 người ở thể có nhiễm trùng. Kết quả có 86,36% bệnh nhân hết tình trạng nhiễm trùng, 58% giảm nhiều mụn nước, 22% giảm ít mụn nước, 20% không giảm mụn nưóe, 14% không hết nhiễm trùng. Viên sâm đại hành uống và mỡ sâm dại hành bôi còn được dùng cho 25 bệnh nhân vẩy nến, trong đó có 8 ca vẩy nến thể giọt và 17 bệnh nhân vẩy nến thể mảng. Thời gian điều tậ 2 - 5 tháng. Kết quả khá 32%, đỡ 28%. Đối vói chốc, viên sâm đại hành uống, mỡ 10% và cồn thuốc 20% sâm đại hành đã điều trị 78 bệnh nhi, trong đó có 36 chốc đơn thuần và 42 chốc chàm hóa để nghiên cứu hiệu lực kháng sinh của thuốc đối vói tụ cầu vàng và liên cầu khuẩn gây bệnh chốc ngoài da của trẻ em. Đối với chốc đơn thuần thể phỏng, kết quả rất tốt, bệnh khỏi nhanh và không tái phát. Đối vói chốc có kèm nhọt đầu đanh, kết quả cũng tốt, nhưng có phần hơi chậm hơn. Đối với chốc chàm hóa, chốc lành hết, khỏi các mụn loét và đầu đanh, nhưng các mụn nước không khỏi.

Viên sâm đại hành điều trị 53 cháu vị viêm nhiễm đường hô hấp trên đo nhiễm vi khuẩn nhẹ, hoặc nhiễm siêu vi khuẩn (cảm cúm nhẹ và vừa) có kết quả tốt thay thế được kháng sinh. Thuốc đã chữa khỏi nhanh các triệu chứng và đạt số ngày nằm điều trị tương tự như với thuốc kháng sinh. Thuốc không gây tác dụng phu Viên sâm đại hành dùng phối hợp với INH và pyrazinamid điều trị lao phổi, đã có tác dụng làm giảm sốt, giảm khạc đờm, giảm ho ra máu, làm cho dễ ngủ và ăn ngon. Viên Đại can gồm sâm đại hành và xạ can có tác dụng tốt đối với viêm họng cấp tính nhẹ (85% kết quả khá và tốt); đối với viêm họng mạn tính, tỷ lệ khỏi và khá thấp hơn, khoảng 63,8%. Có thể dùng viên Đại can cho mọi lứa tuổi, ngậm hoặc uống. Thuốc có tác dụng chống viêm rõ rệt, đồng thời có tác dụng long đờm, có thể dùng điều trị chứng ho thông thưòng, không gây tác dụng không mong muốn.

Viên sâm đại hành còn dùng điều trị cho 25 trường hợp sau phẫu thuật ruột thừa chưa có biến chứng, dùng thuốc từ ngày thứ 2 sau mổ trong 7 ngày, các vết mổ tiến triển tốt, không có mủ. Thuốc không gây tác dụng phụ. Viên sâm đại hành có tác dụng tốt khi áp dụng để phòng nhiễm khuẩn sau đặt vòng tránh thai. Sâm đại hành cũng có tác dụng tốt đối vói các vết thương có mủ, vết bỏng. Viên sâm vông gồm sâm đại hành và lá vông có tác dụng gây ngủ, tác dụng tốt với chứng mất ngủ do bệnh mạn tính như viêm đại tràng, loét dạ dày; tác đụng hạn chế đối với những bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn gây mất ngủ và đối với suy nhược thần kinh. Tác dụng tốt với bệnh nhân mất ngủ đầu giờ, ngủ không sâu.

7. Tính vị, công năng

Sâm đại hành vị ngọt nhạt, tính bình, vào 3 kinh : can, tỳ, phế, có tác dụng giảm ho, cầm máu, tiêu độc, kháng khuẩn, tiêu viêm.

8.Công dụng

Thuốc bổ máu chữa thiếu máu, vàng da, xanh xao, hoa mắt, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi. Thuốc cầm máu dùng trong băng huyết, ho ra máu, bị thương chảy máu (dùng củ tươi, giã đắp). Còn dùng chữa ho gà, viêm họng, mụn nhọt, chốc lở. Ngày đùng 4 - 12g, dạng thuốc sắc. Ở Indonesia, rễ sâm đại hành được dùng theo kinh nghiệm dân gian làin thuốc lợi tiểu, trị lỵ, viêm và sa trực tràng. Ở Philippin, nhân dân dùng rễ củ giã nát đắp lên vết cắn của cá độc, để nhổ gai ở chân, và đắp vào vết châm đốt của sâu bọ, vết thương, nhọt. Rễ củ nướng, giã nát, xát vào bụng chữa đau bụng, ở Peru, thổ dân vùng Amazon dùng sâm đại hành trị rối loạn tiêu hóa và bệnh ngoài da. Ở vùng trung Hải, rễ sâm đại hành trị vô kinh dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống.

9.Bài thuốc có sâm đại hành

1. Rượu sâm đại hành (chữa thiếu máu, xanh xao, vàng da hay mệt mỏi): Sâm đại hành phơi khô thái mỏng (100g), rượu trắng (30°) vừa đủ 1 lít. Ngâm 7-15 ngày. Thêm đường cho đủ ngọt. Ngày uống 30 ml, chia làm 2 lần trước bữa ăn. Uống liên tục 15-20 ngày.

2. Rượu bổ huyết trị tê thấp: Sâm đại hành, bổ cốt toái, đương quy, bạch chỉ, cẩu tích, độc hoạt, mỗi vị 50g, ngâm vói 2 lít rượu, uống dần.

3. Thuốc tiêu độc:

a) Sâm đại hành 30g dưới dạng chè thuốc và sirô cho trẻ em.

b) Sâm đại hành, sài đất, bồ công anh, cam thảo đất, ké đầu ngựa, kim ngân, kinh giới dưới dạng cao lỏng.

4. Chữa mụn nhọt sưng tấy: Sâm đại hành 4g; bông trang, đơn tướng quân, bồ công anh, sài đất, mỗi vị 16g. sắc uống.

5. Chữa viêm họng, viêm phổi, sưng amiđan: Sâm đại hành 3g; vỏ rễ dâu, cỏ nhọ nổi, sài đất, bách bộ, mạch môn, mỗi vị 12g. sắc uống.

6. Thuốc an thần Passerynum, làm ngủ dễ và ngon giấc: Sâm đại hành, lạc tiên, vông nem, lá sen, thảo quyết minh, hạt tơ hồng, lá dâu, hạt keo dậu. Nấu cao và làm viên.

7. Chữa ho viêm phế quân: Sâm đại hành, rễ dâu, lẻ bạn, mỗi vị 20g; cam thảo nam, lá chanh, mỗi vị 12g. sắc uống ngày một thang.

8. Chữa viêm phế quản có nhiều đờm: Sâm đại hành 100g, hạt đình lịch 200g, gừng khô 50g, bán hạ 30g, trần bì 20g, phèn phi 20g. Hạt đình lịch sao đen, bán hạ chế, sâm đại hành thái mỏng phơi khô, các vị hợp lại tán nhỏ, gừng nấu nưóe luyện hoàn 0,30g, sấy khô. Ngày uống 8g, chia 2 lần. 

9. Chữa ho viêm họng trẻ em: Sâm đại hành 100g, xạ can 50g. sắc nước, cô đặc, pha thành 300 ml sừô. Mỗi ngày uống 12 - 30 ml sừô chia 3 lần tùy theo tuổi.

Nguồn : Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam.

 

TRA CỨU DƯỢC LIỆU

  • {{ content.fields.name }}
Các thông tin trên Website được dựa trên Cuốn Danh lục cây thuốc Việt Nam, cây thuốc và động vật làm thuốc