Mục lục
Mô tả
- Cây thảo, sống lâu năm, có thể cao đến 1 m.
- Thân rễ dài, chia đốt, mọc bò ở dưới đất. Thân cây mọc đứng, hình trụ rỗng (trừ các mắt), có nhiều khía rãnh dọc, mang phần sinh sản (hữu thụ) và phần không sinh sản (bất thụ).
- Phần không sinh sản có thể dài đến 20 cm, chia thành từng đốt, có rãnh dọc; ở mỗi mẫu có một vòng lá rất nhỏ dính liền nhau ở gốc thành bẹ hình ống, phía trên ống chia răng màu nâu, ứng với số rãnh của đốt.
- Phần sinh sản gồm túi bào tử mọc ở mặt dưới những lá biến đổi thành vảy. Các vảy này tụ hợp thành bông thuôn ở ngọn thân, nom như đầu nhọn của chiếc bút lông. Bào tử hình cầu.
- Mùa sinh sản: tháng 10–12.
Phân bố, sinh thái
Chi Equisetum L. chỉ có một số ít loài, phân bố rải rác khắp thế giới. Ở Ấn Độ có 4 loài, Việt Nam 2 loài, đều được dùng làm thuốc.
Cỏ tháp bút thường gặp ở các tỉnh miền núi và trung du, mọc thành đám nhỏ ở đất ẩm, dọc theo bờ khe suối, bờ ruộng nước sát chân núi. Cây có hệ thống thân rễ phát triển, phân nhánh nhiều nên khó phân biệt thành từng cá thể. Bào tử có nhiều, hàng năm, phát tán nhờ gió hoặc dòng nước. Mặt khác, nhờ có hệ thống thân rễ nằm dưới mặt đất, nên phần trên mặt đất nếu bị chặt phá hoặc đốt cháy, vẫn tồn tại và tiếp tục tái sinh.
Bộ phận dùng
Toàn cây.
Thành phần hóa học
Cây cỏ tháp bút chứa các alcaloid như equisttin, nicotin, palustrin, 3-methoxypyridin. Ngoài ra, còn có thymin, dimethylsulfon.
Các flavonoid đã được tìm thấy là isoquercitrin (C₂₁H₂₀O₁₂), galuteolin (luteolin 5-glucosid C₂₁H₂₀O₁₁), equisetirin (kaempferol-7-diglucosid C₂₇H₃₀O₁₆).
Cây khô chứa 75–100 mg% vitamin C. Ngoài ra, đã phân lập được pachysapogenin A, pachysapogenin B và β-sitosterol. Đặc biệt đã phân lập được equisetonin là một chất vô định hình màu vàng với hàm lượng khá cao 1–5%, khi thuỷ phân cho equisetogenin (C₂₇H₄₈O₈) và fructose, arabinose.
Từ hoa cây tháp bút, người ta còn chiết được arculatin (C₂₂H₃₂O₁₁) và một lượng nhỏ isoarculatin. Khi thuỷ phân arculatin thu được genin có công thức hóa học là C₁₅H₂₂O₆ và glucose; ngoài ra, còn có acid equisetolic.
Tác dụng dược lý
Nghiên cứu trên cơ sở cho động vật thí nghiệm uống nước sắc cỏ tháp bút thấy có tác dụng lợi tiểu rõ rệt. Thử nghiệm trên chó được cho acetat chì, cỏ tháp bút thúc đẩy nhanh và làm tăng lượng chì thải trừ. Cỏ tháp bút có tác dụng lợi tiểu và làm tăng thải trừ chì mạnh hơn râu mèo và diuretin (kết hợp của natri salicylat và theobromin), với những liều thử nghiệm: cỏ tháp bút hoặc râu mèo 10g/kg, và diuretin 0,05g/kg.
Đã nghiên cứu áp dụng một bài thuốc gồm cỏ tháp bút và 7 dược liệu khác để điều trị loét giác mạc do virus herpes gây đau nhức, chói, cộm mắt cho 80 bệnh nhân. Kết quả: khỏi 84%, đỡ 8%, không khỏi 8%.
Tính vị, công năng
Cỏ tháp bút có vị ngọt hơi đắng, tính bình, vào các kinh can, đởm, phế, thận, có tác dụng tán phong, giải cơ, lợi tiểu, làm ra mồ hôi và cầm máu.
Công dụng
Cỏ tháp bút được dùng chữa đau mắt sưng đỏ có màng mộng, viêm gan vàng da, bí tiểu tiện, đại ra sỏi, cảm mạo, ho hen, trĩ, huyết lỵ, rong kinh.
Ngày dùng 5–15g kết hợp với thuốc khác, dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Kiêng kỵ: Ăn hư, hỏa vượng, không có phong hàn không nên dùng.
Ở Nga, nhân dân đã dùng cỏ tháp bút từ lâu đời làm thuốc lợi tiểu. Ở Ấn Độ, cỏ tháp bút là thuốc làm mát và đôi khi trị bệnh lậu. Nhân dân Nepal dùng dịch ép rễ khoảng 1 thìa cà phê mỗi ngày trị sốt rét, đồng thời lấy cây dốt và dùng phần còn lại màu đen bôi để trị bỏng ở cơ thể và ghẻ. Trong y học dân gian miền nam nước Ý, cỏ tháp bút cũng được dùng làm thuốc lợi tiểu.
Bài thuốc có cỏ tháp bút:
1. Chữa mắt đau lâu ngày, bị màng che và các chứng bệnh mắt khác:
Cỏ tháp bút, cỏ dùi trống (cốc tinh thảo), thảo quyết minh, gai chống, xác rắn, sinh địa, hoa cúc, mật mông hoa, mỗi vị 10g. Sắc uống.
2. Chữa loét giác mạc do virus bệnh herpes gây đau nhức, chói, cộm mắt:
Cỏ tháp bust8g, lá dâu, bồ công anh, hoa kim ngân, đơn tướng quân, huyền sâm, mỗi vị 16g, sinh địa 12g, xác ve 8g. Pha chế thành cao uống.
3. Chữa tiêu chảy ra máu mạn tính:
Cỏ tháp bút 20g sắc uống vào lúc đói (Nam dược thần hiệu).
4. Chữa bằng huyết, rong huyết kéo dài hoặc đã mãn kinh mà còn rong huyết:
Cỏ tháp bút 20g, sao sắc uống.
5. Chữa viêm gan, đái vàng thẫm, viêm thận, viêm bàng quang đái đỏ hoặc đái ra sỏi:
Cỏ tháp bút, mộc thông, mã đề, sinh địa, cỏ xước hoặc ngưu tất, rễ cỏ tranh, mỗi vị 15g, sắc và uống với bột hoạt thạch 15g chia làm 3 lần.
6. Chữa cảm sốt không có mồ hôi, nhức đầu mặt đỏ sưng đau, chói sơ sảng, chảy nước mắt, mờ mắt:
Cỏ tháp bút, hoa cúc, lá dâu, hạt mào gà trắng, mỗi vị 12g, có thanh ngâm 6g. Sắc uống.
7. Chữa đái ra cặn trắng:
Cỏ tháp bút, rễ mía đò, mỗi vị 12g. Sắc uống.
Nguồn: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam