Dây Gắm - Vị thuốc quý mọc hoang trong rừng và thường bị chặt bỏ!

Dây Gắm loại cây mọc hoang có nhiều lợi ích

Gắm là loại cây mọc hoang: Vỏ thân có sợi dai, thường sử dụng làm chạc, bện thừng, đan túi, đan lưới hay làm nguyên liệu cho ngành dệt. Lá có thể sử dụng như rau ăn. Hạt có thể rang lên ăn, ép lấy dầu hay ủ men chế thành rượu; Dịch có thể sử dụng làm nước giải khát. Còn tất cả các bộ phận của cây, đều có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Tiếc rằng, tiềm năng của loài cây quý này vẫn chưa được khai thác triệt để. Gắm có tên khoa học Gnetum montanum Markgr, thuộc họ Dây gắm (Gnetaceae). Cây còn có các tên đồng nghĩa: Gnetum scandens Roxb, Gnetum edule Kurz. và Gnetum latifolium Parl.

Dây gắm lá rộng. ( Gnetum latifolium Blume var. latifolium)

Ở Việt Nam, cây còn có tên là Dây sót, Dây mấu, Dây gấm lót, Vương. tôn, Gắm núi, Gấm, Bằn thắn muối (Thái), Muối (Tày), K'lọt (K'ho), Viàng múi nhây (Dao).

Trong các sách thảo dược Trung Quốc (TQ), cây có tên là “Mãi mãi đằng” (mãi = mua, ma = cây đay, đằng = dây leo; cây có tên như vậy vì đó là thứ dây leo mà người ta mua về sử dụng làm dây buộc hoặc lấy sợi đan lưới, giống như dây đay). Tại TQ, cây cũng có nhiều tên gọi khác (dị danh, biệt danh), như Mãi tử đằng, Bác cốt đằng, Đại tiết đằng, Ô cốt phong, Ma cốt phong, Hắc đằng, Hạc tất phong, Trúc tiết đằng, Tiếp cốt đằng, ...

Theo một số tài liệu như “Quảng Đông Thực vật chí, “Tân hoa bản thảo cương yếu, tạp chí“Thực vật di truyền từ nguyên học báo” (Journal of Plant Genetic Resources) 2011, 12 (5): Dây gắm lại là loài cây mọc leo duy nhất, trong các loại Thực vật hạt trần. Chi Gắm có vị trí rất đặc biệt trong Hệ thống phân loại thực vật. Một số học giả cho rằng, Dây gắm nằm ở vị trí trung gian, có vai trò như loài cây chuyển tiếp giữa Thực vật hạt trần và Thực vật hạt kín. Về phương diện hình thái, Dây gắm có cả những đặc trưng của Thực vật hạt trần và Thực vật hạt kín. Do đó, loài cây này có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lý thuyết cũng như ứng dụng.

Theo tạp chí “Thực vật di truyền tự  nguyên học báo”, Họ Dây gắm trên. Thế giới chỉ CÓ 1 Chị duy nhất - với khoảng 40 loài, phân bố ở các khu  vực nhiệt đới và á nhiệt đới ở châuÁ, châu Phi và Nam Mỹ. Trung tâm phân bố là khu vực từ phần đại lục Nam châu Á, qua bán đảo Malaysia, tới quần đảo Philippin. Tại TQ đã phát hiện và lấy được tiêu bản của 9 loài. Do phân bố rộng, lại dễ chịu ảnh hưởng của các nhân tố môi trường, nên Dây gắm có khá nhiều biến dạng về phương diện hình thái. Do chưa được tiến hành điều tra một cách hệ thống, nên có khả năng là, có những loài Gắm mới hiện tại vẫn chưa được phát hiện.

Theo“Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, chi Gắm - Gnetum L. thường là những cây bụi, dây leo, ít khi là cây hóa gỗ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, một số loài ở nhiệt đới châu Phi và Nam Mỹ. Ở Việt Nam có khoảng 5-6 loài. Gắm là loài phân bố tương đối phổ biến ở các tỉnh miền núi.

 

Gắm thường mọc ở các khu rừng kín thường xanh ẩm

Gắm thường mọc ở các kiểu rừng kín thường xanh ẩm. Những cây lớn có thể dài tới 20m, lá tập trung ở các cành nhỏ. Ra hoa quả nhiều hàng năm, một cây lớn có thể cho tới 10kg quả (thực chất đó là hạt bởi Gắm thuộc nhóm hạt trần - Gymnospermae). Cây tái sinh tự nhiên từ hạt tốt. Thời kỳ cây còn nhỏ ưa ẩm và ưa bóng.  Nguồn dược liệu từ cây Gắm ở Việt Nam khá dồi dào. Trước năm 1990, ngành y tế thường khai thác thu mua Gắm, hiện nay thu mua ít hơn. Gắm là đối tượng bị chặt bỏ trong quá trình tu bố và khai thác rừng. Phần gốc còn lại có khả năng tái sinh cây chồi khỏe.

Tác dụng chữa bệnh theo Y học cổ truyền

- Theo cuốn “Bách gia trên tàng" của Hải Thượng Lãn Ông: Rễ Gắm Còn gọi là “Vương tôn", có vị đắng, tính bình. Dùng chữa chứng tê đau do hàn thấp, lại có thể ích khí, bổ hư tổn.

- Theo cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của GS Đỗ Tất Lợi: Trong nhân dân thường dùng Dây gắm sắc uống làm thuốc giải các chất độc như bị sơn ăn, ngộ độc. Còn được dùng làm thuốc chữa sốt và sốt rét. Ngày dùng 15-20g hay 30g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

- Theo cuốn“Từ điển cây thuốc Việt Nam” của TS Võ Văn Chi: Dây gắm (Vương tôn) có vị đắng, tính bình, có tác dụng khu phong, trừ thấp, thư cân hoạt huyết, giải độc, tiêu viêm, sát trùng. Công dụng: Hạt ăn được. Rễ và thân Dây gắm thường dùng làm thuốc giảm đau, chữa phong tê thấp, sản hậu mòn, giải các chất độc (Ngộ độc thức ăn, Sơn ăn da, rắn cắn); cũng dùng làm thuốc chữa sốt và sốt rét. Rễ Gắm còn được dùng chữa kinh nguyệt không đều. Lá Gắm giã đắp chữa rắn cắn. Liều dùng 15-20g Có thể đến 30g, dạng thuốc sắc hay ngâm rượu uống. Để chữa thấp khớp, người ta thường phối hợp với các vị thuốc khác ngâm rượu uống. Ở Ấn Độ, dầu hạt dùng xoa bóp trị bệnh tê thấp, thân và rễ hạ nhiệt.

- Theo cuốn“Thường dùng trung thảo dược thủ sách”: Dây Gắm có vị khổ (đắng), tính ôn (ấm). Công năng chủ trị: Khư phong trừ thấp, hoạt huyết tán ứ. Cành lá trị đòn ngã tổn thương (trị điệt đả tổn thương), phong thấp đau xương (phong thấp Cốt thống). Rễ trị sưng đau đầu gối (hạc tất phong). Cách dùng và liều dùng: 15-30g sắc uống; dùng ngoài: Giã nát đắp hoặc giã nát sao rượu đắp.

 

Rễ Gắm Còn gọi là “Vương tôn", có vị đắng, tính bình

- Theo cuốn“Lục Xuyên bản thảo”: Cành lá giúp liền gân xương (tục cân cốt), trị đòn ngã tổn thương, gãy xương bong gân (cốt chiết cân thương).

- Theo cuốn “Quảng Tây dược thực danh lục": Cành lá giúp liền xương, tiêu thũng, giảm đau (chỉ thống); Trị phong thấp cốt thống. Rễ trị hạc tất phong (đầu gối sưng đau).

 

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HIỆN ĐẠI

Về thành phần hoá học

Theo “Trung Hoa bản thảo", từ Dây gắm lá nhỏ, đã phân lập được các chất: Gnetifolin A, B, C, D, E, F; isorhapontigenin; resveratrol; Bsitosterol; dl-demethyl coclaurin hydrochlorid; 2-hy-droxy-3-methoxy-4-methoxycarbonypyrrol; 2-hydroxy-3-methoxymethyl-4- methoxycarbony-lpyrrol; 3,4'-dihydroxy-4-methoxydibenzylether; 3,3',4'-trihydroxy-4 methoxydibenzylether; 3diphenylpyrrole; N,N-dimethylethano-lamin.

Một số tác dụng dược lý

1. Nước sắc Dây gắm có tác dụng ức chế, với mức độ khác nhau đối với liên cầu khuẩn nhóm A (Group A Streptococci), vi khuẩn gây viêm phổi Catarrhal (neisseria catarrhal pneumonia); liên cầu khuẩn tan máu (Haemophilus haemolyticus), tụ cầu khuẩn vàng (Staphylococcus aureus); trực khuẩn thương hàn (Salmonella typhosa); trực khuẩn lý (Shigella flexneri).

2. Chất dl-demethyl Coclaurin hydrochlorit chiết xuất từ Dây gắm CÓ tác dụng làm mạnh tim (kết quả thí nghiệm trên tim cô lập ở chuột).

3. Tiêm chất chiết xuất từ Dây gắm cho chuột thí nghiệm với liều 0,1mg/kg thể trọng thấy có tác dụng chống co thắt phế quản (bình suyễn).

4. Kết quả thực nghiệm cho thấy nước sắc Dây gắm có tác dụng chống khó thở (bình suyễn) và giảm ho nhẹ.

Từ khóa: dây gắm

Có thể bạn quan tâm

Các thông tin trên Website được dựa trên Cuốn Danh lục cây thuốc Việt Nam, cây thuốc và động vật làm thuốc